02.01.2018 Views

[DISCUSSION] Ô nhiễm môi trường nước tại sông Cửa Tiền

LINK BOX: https://app.box.com/s/8fsdtkq0d5ojh1i6cwiprjicnfp3jo2o LINK DOCS.GOOGLE: https://drive.google.com/file/d/1qa7_Cf_sjMXGVM0nJhWmdbiJ6wjjeQWt/view?usp=sharing

LINK BOX:
https://app.box.com/s/8fsdtkq0d5ojh1i6cwiprjicnfp3jo2o
LINK DOCS.GOOGLE:
https://drive.google.com/file/d/1qa7_Cf_sjMXGVM0nJhWmdbiJ6wjjeQWt/view?usp=sharing

SHOW MORE
SHOW LESS

You also want an ePaper? Increase the reach of your titles

YUMPU automatically turns print PDFs into web optimized ePapers that Google loves.

BÀI THẢO LUẬN<br />

NHÓM 6_Thứ 3-tiết 9,10<br />

Đề tài: <strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong><br />

<strong>tại</strong> <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong>


Cấu trúc đề tài<br />

I, Đặt vấn đề<br />

1,Lí do chọn đề tài<br />

2, Nhiệm vụ nghiên<br />

cứu<br />

3, Phạm vi nghiên<br />

cứu<br />

4, Phương pháp<br />

nghiên cứu<br />

II, Nội dung<br />

Chương I: Cơ sở lí luận của<br />

vấn đề ô <strong>nhiễm</strong> <strong>nước</strong><br />

Chương II: Thực trạng<br />

Chương III: Biện pháp<br />

- Định hướng đưa ra giải<br />

pháp chung<br />

- Giải pháp cụ thể của<br />

nhóm<br />

III, Kết luận, kiến nghị<br />

1, Kết luận<br />

2, Kiến nghị chung.<br />

3, Kiến nghi đối với<br />

môn học.


I, Đặt vấn đề<br />

1, Lí do chọn đề tài<br />

Như chúng ta đã biết, <strong>nước</strong> là một nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời<br />

sống xã hội loài người. Nó không chỉ là yếu tố đảm bảo cho sự sống của con người<br />

mà còn là yếu tố đóng vai trò quyết định sự phát triển bền vững của mọi quốc<br />

gia.Con người mỗi ngày cần 250 lít <strong>nước</strong> cho sinh hoạt,1500 lit <strong>nước</strong> cho hoạt<br />

động công nghiệp và 2000 lít cho hoạt động nông nghiệp.Nó là thành phần cấu tạo<br />

chủ yếu trong cơ thể sinh vật ,chiếm 50%-97% trọng lượng của cơ thể. Ngoài chức<br />

năng tham gia vào chu trình sống trên,<strong>nước</strong> cũng là chất mang năng lượng, mang<br />

vật liệu và tác nhân điều hòa khí hậu,thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất<br />

trong tự nhiên.Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất đều<br />

phụ thuộc vào <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong>.


I, Đặt vấn đề<br />

Trong những năm trở lại đây, ở thành phố Vinh do quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa<br />

diễn ra nhanh chóng,nên diện mạo thành phố cũng nhanh chóng thay đổi.Tuy nhiên đi đôi<br />

với sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt kinh tế văn hoá xã hội thì hiện tượng ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong><br />

<strong>trường</strong> ngày càng diễn ra trầm trọng, đặc biệt là ô <strong>nhiễm</strong> nguồn <strong>nước</strong>.Nguồn <strong>nước</strong> <strong>tại</strong> thành<br />

phố đang bị ô <strong>nhiễm</strong> bởi các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người. Dẫn tới việc suy<br />

giảm về cả chất lượng và số lượng làm ảnh hưởng tới <strong>môi</strong> trương sống và sức khỏe của con<br />

người.<br />

Do vậy vấn đề đảm bảo nguồn <strong>nước</strong> sạch cho dân cư thành phố Vinh đang là nhiệm vụ<br />

hàng đầu của các tổ chức <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> thành phố. Đặc biệt việc nghiên cứu thực trạng <strong>môi</strong><br />

<strong>trường</strong> <strong>nước</strong> và đề ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề cấp bách nêu trên rất cần thiết<br />

đối với thành phố Vinh.


I, Đặt vấn đề<br />

Vì vậy đòi hỏi cần phải nghiên cứu chặt chẽ và đưa ra những giải pháp thiết thực không<br />

chỉ góp phần nghiên cứu môn học “<strong>môi</strong> <strong>trường</strong> và phát triển bền vững” mà còn đáp ứng<br />

nhu cầu thực tiễn hiện nay của thành phố Vinh.<br />

Xuất phát từ những vấn đề trên và giúp mọi người rõ hơn về ô <strong>nhiễm</strong> nguồn <strong>nước</strong> <strong>tại</strong><br />

khu vực tp ,nhóm quyết định chọn đề tài “ <strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong> <strong>tại</strong> <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> –<br />

thành phố Vinh.”


I, Đặt vấn đề<br />

2, Nhiệm vụ nghiên cứu<br />

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> trương <strong>nước</strong> <strong>tại</strong> <strong>sông</strong><br />

<strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong>.<br />

- Khảo sát ,đánh giá thực trạng ô <strong>nhiễm</strong> nguồn <strong>nước</strong> <strong>tại</strong> <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> và các yếu tố ảnh<br />

hưởng tới tình trạng trên.<br />

- Đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện sự ô <strong>nhiễm</strong> nguồn <strong>nước</strong>.


I, Đặt vấn đề<br />

3, Phạm vi nghiên cứu<br />

Sông <strong>Cửa</strong> tiền , thành phố vinh<br />

4, Phương pháp nghiên cứu<br />

-Phương pháp nghiên cứu lý luận<br />

-Phương pháp nghiên cứu thực địa: quan sát, điều tra,phỏng vấn<br />

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa tài liệu


II, Nội dung<br />

Chương I: Cở sở lí luận của vấn đề ô <strong>nhiễm</strong> <strong>nước</strong><br />

1, Khái niệm cơ bản:<br />

- <strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong> là là sự thay đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý,<br />

hoá học , sinh học của <strong>nước</strong>, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn<br />

<strong>nước</strong> trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong <strong>nước</strong>.<br />

2, Nguồn gốc gây ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong>:<br />

- <strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> <strong>nước</strong> có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào <strong>môi</strong><br />

<strong>trường</strong> <strong>nước</strong> các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng.<br />

- <strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> <strong>nước</strong> có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng<br />

lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào <strong>môi</strong> <strong>trường</strong><br />

<strong>nước</strong>.


II, Nội dung<br />

3, Các tác nhân gây ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong>:<br />

-Các ion vô cơ hòa tan<br />

+ Nhiều ion vô cơ có nồng độ rất cao trong <strong>nước</strong> tự nhiên, đặc biệt là trong <strong>nước</strong><br />

biển.Trong <strong>nước</strong> thải đô thị luôn chứa một lượng lớn các ion Cl-, SO42-, PO43, Na+,<br />

K+. Trong <strong>nước</strong> thải công nghiệp, ngoài các ion kể trên còn có thể có các chất vô cơ có<br />

độc tính rất cao như các hợp chất của Hg, Pb, Cd, As, Sb, Cr, F...<br />

-Sulfat (SO42-)<br />

+Các nguồn <strong>nước</strong> tự nhiên, đặc biệt <strong>nước</strong> biển và <strong>nước</strong> phèn, thường có nồng độ sulfat<br />

cao. Sulfat trong <strong>nước</strong> có thể bị vi sinh vật chuyển hóa tạo ra sulfit và axit sulfuric có thể<br />

gây ăn mòn đường ống và bê tông. Ở nồng độ cao, sulfat có thể gây hại cho cây trồng.<br />

-Clorua (Cl-)<br />

+Là một trong các ion quan trọng trong <strong>nước</strong> và <strong>nước</strong> thải. Clorua kết hợp với các ion<br />

khác như natri, kali gây ra vị cho <strong>nước</strong>. Nguồn <strong>nước</strong> có nồng độ clorua cao có khả năng<br />

ăn mòn kim loại, gây hại cho cây trồng, giảm tuổi thọ của các công trình bằng bê tông,...<br />

Nhìn chung clorua không gây hại cho sức khỏe con người, nhưng clorua có thể gây ra vị<br />

mặn của <strong>nước</strong> do đó ít nhiều ảnh hưởng đến mục đích ăn uống và sinh hoạt.


II, Nội dung<br />

- Các vi sinh vật gây bệnh:<br />

+ Nhiều vi sinh vật gây bệnh có mặt trong <strong>nước</strong> gây tác hại cho mục đích sử dụng <strong>nước</strong><br />

trong sinh hoạt. Các sinh vật này có thể truyền hay gây bệnh cho người. Các sinh vật gây<br />

bệnh này vốn không bắt nguồn từ <strong>nước</strong>, chúng cần có vật chủ để sống ký sinh, phát triển và<br />

sinh sản. Một số các sinh vật gây bệnh có thể sống một thời gian khá dài trong <strong>nước</strong> và là<br />

nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng. Các sinh vật này là vi khuẩn, virút, động vật đơn bào, giun<br />

sán. Ngoài ra còn có một số tác nhân như các chất có màu, các chất gây mùi vị….<br />

- Dầu mỡ:<br />

+ Dầu mỡ là chất khó tan trong <strong>nước</strong>, nhưng tan được trong các dung <strong>môi</strong> hữu cơ. Dầu<br />

mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp. Dầu thô có chứa hàng ngàn các phân tử khác nhau,<br />

nhưng phần lớn là các Hidro cacbon có số cacbon từ 2 đến 26. Trong dầu thô còn có các<br />

hợp chất lưu huỳnh, nitơ, kim loại. Các loại dầu nhiên liệu sau tinh chế (dầu DO2, FO) và<br />

một số sản phẩm dầu mỡ khác còn chứa các chất độc như PAHs, PCBs,…Do đó, dầu mỡ<br />

thường có độc tính cao và tương đối bền trong <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> <strong>nước</strong>. Độc tính và tác động của<br />

dầu mỡ đến hệ sinh thái <strong>nước</strong> không giống nhau mà phụ thuộc vào loại dầu mỡ.


II, Nội dung<br />

- Các chất hữu cơ dể bị phân hủy sinh học<br />

+Cacbonhidrat, protein, chất béo… thường có mặt trong <strong>nước</strong> thải sinh hoạt, <strong>nước</strong> thải đô<br />

thị, <strong>nước</strong> thải công nghiệp chế biến thực phẩm là các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học.<br />

Trong <strong>nước</strong> thaỉ sinh hoạt, có khoảng 60-80% lượng chất hữu cơ thuộc loại dễ bị phân huỷ<br />

sinh học.Chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học thường ảnh hưởng có hại đến nguồn lợi thuỷ<br />

sản, vì khi bị phân huỷ các chất này sẽ làm giảm oxy hoà tan trong <strong>nước</strong>, dẫn đến chết tôm<br />

cá. ii. Các chất hữu cơ bền vững Các chất hữu cơ có độc tính cao thường là các chất bền<br />

vững, khó bị vi sinh vật phân huỷ trong <strong>môi</strong> <strong>trường</strong>. Một số chất hữu cơ có khả năng tồn<br />

lưu lâu dài trong <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> và tích luỹ sinh học trong cơ thể sinh vật. Do có khả năng tích<br />

luỹ sinh học, nên chúng có thể thâm nhập vào chuỗi thức ăn và từ đó đi vào cơ thể con<br />

người.<br />

-Các kim loại nặng:<br />

+Pb, Hg, Cr, Cd, As, Mn,...thường có trong <strong>nước</strong> thải công nghiệp. Hầu hết các kim loại<br />

nặng đều có độc tính cao đối với con người và các động vật khác.


II, Nội dung<br />

Chương II: Thực trạng<br />

Sông Vinh xưa còn gọi Sông Cồn Mộc hay <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong>, có chiều dài 8km được nối<br />

từ <strong>sông</strong> Đước - huyện Hưng Nguyên, chảy qua một số phường xã như <strong>Cửa</strong> Nam, Vinh Tân,<br />

Hưng Thịnh, Trung Đô…thành phố Vinh. Đây là đoạn <strong>sông</strong> cung cấp nguồn <strong>nước</strong> cho hệ<br />

thống kênh rào bảo vệ quanh thành phố Vinh, đồng thời nó còn mang đậm dấu ấn lịch sử,<br />

văn hoá cùng với sự hình thành và phát triển của Đô thị Vinh. Trong những năm gần đây<br />

cùng với sự phát triển của Thành phố Vinh, các nhà máy, khu công nghiệp mọc lên, chợ và<br />

dân cư cũng đông đúc hơn do vậy Sông Vinh đang ngày càng ô <strong>nhiễm</strong> vì lượng rác thải đổ<br />

xuống lòng <strong>sông</strong>.


II, Nội dung<br />

Theo phản ánh của người dân sống gần khu vực <strong>sông</strong>,<br />

cứ buổi chiều tối nhiều xe rác được đổ tràn lan 2 bên<br />

mép <strong>sông</strong> rồi tràn xuống lòng <strong>sông</strong>, bên cạnh đó<br />

những loại bèo tây, cây cỏ cũng mọc tràn lan và khiến<br />

cho diện tích lòng <strong>sông</strong> bị thu hẹp. Bên cạnh đó vấn<br />

đề đáng lo ngại là việc một số hộ dân sinh sống ngay<br />

trên dòng <strong>sông</strong> hay 2 bên máp <strong>sông</strong>, điều này không<br />

những gây ách tắc dòng chảy, cùng với đó là các cửa<br />

hàng buôn bán vật liệu xây dựng 2 bên bờ <strong>sông</strong> đã<br />

ngâm các loại tre mét…xuống dòng <strong>sông</strong> gây ô <strong>nhiễm</strong><br />

nguồn <strong>nước</strong>.


II, Nội dung<br />

Từ những thực trạng trên đã khiến Sông Vinh từ chỗ có chiều rộng là 28 m, độ sâu 3m thì<br />

nay chiều rộng vài chỗ chỉ còn 3m.<br />

<strong>Ô</strong>ng Trần Xuân Trí – PCT UBND Phường <strong>Cửa</strong> Nam trao đổi: “Trong thời gian qua về<br />

vấn đề ở Sông Vinh chúng tôi cũng đã vào cuộc một cách quyết liệt, như xử lí nghiêm cấm<br />

tình trạng đổ rác thải và tháo dỡ các căn nhà được dựng tạm trên 2 bên mép <strong>sông</strong> do vậy<br />

mà tình trạng này cũng đã giảm đang kể, Trong thời gian tới chúng tôi sẽ xử lí nghiêm<br />

những tình trạng còn vi phạm….”<br />

Bà Ngô Thị Hồng – Khối 12 Phường <strong>Cửa</strong> Nam “Nhà tôi khổ, vất vả lắm không có điều<br />

kiện mua đất, mua nhà nên phải ở như thế này, nhiều lần chính quyền địa phương xuống để<br />

xử lí, tháo giỡ nhưng mà cũng không biết đi đâu cả…..”


II, Nội dung<br />

Tình trạng lấn chiếm và ô <strong>nhiễm</strong> trên dòng <strong>sông</strong> Vinh đang ngày một nghiêm trọng và nếu<br />

không xử lí ngay thì hệ luỵ sẽ ngày một lớn và khó khắc phục được do vậy đây là một vấn<br />

đề bức thiết mà các cơ quan chức năng sớm có cách giải quyết phù hợp để dòng <strong>sông</strong> Vinh<br />

trở lại vẻ đẹp vốn dĩ.<br />

<strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> <strong>sông</strong> Vinh không những ảnh hưởng đến sinh kế của những người làm nghề chài<br />

lưới trên <strong>sông</strong> mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn <strong>nước</strong> sinh hoạt và gây nên tình trạng<br />

ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> ở khu dân cư.<br />

Hơn 50 tuổi nhưng ông Đoàn Văn Vinh ở khối 2, phường Trung Đô, Thành phố Vinh đã<br />

có hàng chục năm làm nghề chài lưới. Địa bàn hoạt động chính của bố con ông là khu vực<br />

<strong>sông</strong> Vinh, đoạn từ Ba ra Bến Thủy đến cầu <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong>. Hàng ngày, với chiếc thuyền nhỏ,<br />

không kể mưa hay nắng, hai bố con ông đều chèo thuyền đi thả lưới, đánh cá trên <strong>sông</strong>,<br />

lượng cá đều đặn đã trở thành một trong những nguồn thu nhập chính của gia đình. Nhưng<br />

mấy ngày nay, việc đánh cá buộc phải ngưng lại vì cá chết nổi trắng trên <strong>sông</strong>. Sáng 3/3,<br />

sau một hồi thả lưới nhưng không có kết quả, hai bố con ông buồn bã chèo thuyền dọc<br />

<strong>sông</strong>, dùng chiếc vợt để gom cá chết, thu dọn mặt <strong>sông</strong>


II, Nội dung<br />

Phía dưới chân cầu Đen thuộc phường Trung Đô,<br />

một số người dân khác cũng mang câu đi thả<br />

nhưng vì <strong>nước</strong> <strong>sông</strong> bốc mùi hôi thối, cá chết nổi<br />

lờ đờ trên mặt <strong>nước</strong> và bắt đầu phân hủy nên đành<br />

mang lưới về. Vừa dùng tay bịt mũi vừa cuốn<br />

dây câu, anh Nguyễn Đức Mạnh cho biết,<br />

thường ngày, <strong>sông</strong> Vinh là địa chỉ đi câu khá thú vị,<br />

<strong>nước</strong> chảy chậm, cá nhiều nhưng mấy hôm nay cá<br />

chết hàng loạt, thả mồi xuống không ăn trong khi<br />

mùi hôi thối bốc lên rất khó chịu<br />

<strong>Ô</strong>ng Đoàn Văn Vinh gom cá chết đã phân hủy trên <strong>sông</strong> Vinh


II, Nội dung<br />

Theo một số ngư dân chèo thuyền thả lưới trên <strong>sông</strong> Vinh, chúng tôi đi xuống Ba ra Bến<br />

Thủy. Ngay ở chân cống, lẫn trong đống bèo tây là những túi bóng, rác rưởi cùng những<br />

con cá chết đã bắt đầu phân hủy. Cạnh đó, đàn cá hàng trăm con khác cũng nổi lờ đờ trên<br />

mặt <strong>nước</strong>. <strong>Ô</strong>ng Bùi Xuân Lân (khối 2, phường Trung Đô) người có nhiều năm trồng rau,<br />

nuôi gà sát mép <strong>sông</strong> Vinh khu vực Ba ra Bến Thủy cho biết, mấy hôm trước, cá chết trắng<br />

cả khúc <strong>sông</strong> nhưng sau đó Ba ra Bến Thủy mở cửa để điều tiết <strong>nước</strong>, cá theo dòng chảy<br />

hết ra <strong>sông</strong> Lam. “Từ lâu lắm rồi mới thấy cá chết nhiều như thế này. Nguyên nhân cá chết<br />

là do dòng <strong>sông</strong> bị ô <strong>nhiễm</strong> nghiêm trọng, <strong>nước</strong> đen ngòm, bốc mùi hôi, rác rưởi, xác súc<br />

vật tấp đầy <strong>sông</strong>. Chúng tôi không thể sử dụng nguồn <strong>nước</strong> <strong>sông</strong> để giặt giũ, sinh hoạt như<br />

trước đây nữa”, ông Lân bức xúc.


II, Nội dung<br />

<strong>Ô</strong>ng Lê Đình Nam, Trạm trưởng Trạm Ba ra Bến Thủy, người có thâm niên 20 năm gắn bó<br />

với đoạn <strong>sông</strong> Vinh ở cuối nguồn cho biết, <strong>sông</strong> Vinh có vai trò quan trọng, vừa cung cấp<br />

<strong>nước</strong> thủy lợi, phục vụ nông nghiệp, vừa là nguồn cấp <strong>nước</strong> sinh hoạt cho người dân Thành<br />

phố Vinh. Sông chảy từ Nam Đàn về, qua nhiều khu dân cư khác nhau, trong đó đoạn chảy<br />

từ cầu <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> về đến hạ nguồn Ba ra Bến Thủy ô <strong>nhiễm</strong> trầm trọng nhất. “Nếu khoảng 10<br />

ngày mà Ba ra không mở cống thì ngay lập tức có hiện tượng cá chết vì nguồn <strong>nước</strong> bị ô<br />

<strong>nhiễm</strong> từ phía thượng nguồn, tích tụ lại ở chân Ba ra. Nếu mở cống liên tục thì sẽ xảy ra<br />

tình trạng thiếu <strong>nước</strong>, các trạm bơm thủy lợi trên <strong>sông</strong> sẽ không đủ <strong>nước</strong> để bơm phục vụ<br />

người dân”, anh Nam cho biết. Theo phân tích của anh Nam, nguyên nhân dẫn đến việc<br />

<strong>sông</strong> Vinh đoạn chảy qua các phường <strong>Cửa</strong> Nam, Vinh Tân, Trung Đô và xã Hưng Lợi<br />

(Thành phố Vinh) bị ô <strong>nhiễm</strong> là do ý thức của người dân quá kém. Các khu dân cư dọc <strong>sông</strong><br />

thường xuyên xả rác, các loại xú uế và <strong>nước</strong> thải sinh hoạt xuống <strong>sông</strong>. Đây là nguyên nhân<br />

đã khiến dòng <strong>sông</strong> bị ô <strong>nhiễm</strong> nghiêm trọng.


II, Nội dung


II, Nội dung<br />

<strong>Ô</strong>ng Nguyễn Xuân Huân, Chủ tịch UBND phường Trung Đô cho biết, cách đây 2 năm, trên<br />

<strong>sông</strong> Vinh cũng đã xảy ra tình trạng cá chết hàng loạt như mấy ngày vừa qua. Việc này không<br />

chỉ gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân vì mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, mà còn gây<br />

tâm lý nghi ngại cho người dân, nhiều người đoán già đoán non không hiểu <strong>sông</strong> Vinh đang ô<br />

<strong>nhiễm</strong> mức nào. “Chính quyền và người dân chúng tôi rất mong các cơ quan có thẩm quyền,<br />

các nhà khoa học điều tra, làm rõ nguyên nhân gây ô <strong>nhiễm</strong>, đánh giá mức độ ô <strong>nhiễm</strong> cũng<br />

như hậu quả của việc ô <strong>nhiễm</strong> trên dòng <strong>sông</strong> này”, ông Huân cho biết.<br />

Theo quan sát của chúng tôi, dọc <strong>sông</strong> Vinh từ đoạn chân Ba ra Bến Thủy ngược lên phía<br />

<strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> thuộc khu vực phường Vinh Tân có rất nhiều bãi tập kết rác tập trung. Rác được<br />

chất ngay bên bờ <strong>sông</strong>, tràn xuống tận mép, các loại rác thải đủ thứ như xác cây, túi ni lông,<br />

bao tải, chai lo, xác động vật... cùng những dòng <strong>nước</strong> đen ngòm, chỉ cần một trận mưa nhỏ<br />

là tất cả đều bị trôi thẳng xuống <strong>sông</strong>…


II, Nội dung<br />

Nguyên nhân chính của tình trạng này là ý thức<br />

của người dân, cứ hễ có <strong>sông</strong>, mương, kênh rạch,<br />

ao hồ là tuôn tất tần tật đủ mọi rác thải vào đó,<br />

đặc biệt là các khu vực cửa <strong>sông</strong>, tất cả rác thải<br />

của người dân sống 2 bên bờ đều đổ dồn lên<br />

dòng lạch, thậm chí có cả chăn, chiếu, gường,<br />

chõng của người chết, xác chết động vật... Khi<br />

mưa xuống là dồn ra cửa <strong>sông</strong>, cửa biển cả”. Áp<br />

lực từ rác thải người dân đổ xuống, cộng với <strong>nước</strong><br />

thải từ các công <strong>trường</strong>, nhà máy, xí nghiệp, các<br />

đầm nuôi tôm, <strong>nước</strong> thải sinh hoạt..., khiến cho<br />

<strong>nước</strong> bề mặt bị ô <strong>nhiễm</strong>.<br />

Rác thải bên bờ <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong>


II, Nội dung<br />

Không chỉ nhìn bằng cảm quan về sự ô <strong>nhiễm</strong> <strong>nước</strong> bề mặt ở đây như ta thường thấy mà cần<br />

phải có cái nhìn sâu và xa hơn. Bởi từ sự ô <strong>nhiễm</strong> <strong>nước</strong> bề mặt sẽ thẩm thấu vào đất xuống các<br />

tầng <strong>nước</strong> ngầm, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn <strong>nước</strong>. Nước bề mặt ô <strong>nhiễm</strong> cũng dẫn tới<br />

chất lượng <strong>nước</strong> sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng khi các nhà máy <strong>nước</strong> đều sử dụng<br />

nguồn <strong>nước</strong> này để cung cấp” - ông Dương Bạch Hoài Phước, chuyên viên Phòng <strong>nước</strong> và biển<br />

đảo, Sở Tài nguyên - Môi <strong>trường</strong> cho biết.<br />

Ngoài ra, các diện tích đất ngập <strong>nước</strong> là nơi điều hòa sinh thái và khí hậu, hạn chế lũ lụt, chắn<br />

sóng và gió bão, chống xói lở và ổn định bờ biển, duy trì tính đa dạng sinh học, tạo <strong>môi</strong> <strong>trường</strong><br />

hoạt động cho nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải, du lịch, khai<br />

khoáng… và là nguồn sống của hàng triệu người dân, là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật<br />

quý hiếm. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, do các hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng<br />

đất ngập <strong>nước</strong> để phát triển đô thị, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; các loại chất thải<br />

ngày càng gia tăng; nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản bằng các phương pháp có tính hủy diệt;<br />

nạn chặt phá rừng ngập mặn, phá hủy rạn san hô; sử dụng không hợp lý các hóa chất bảo vệ<br />

thực vật và phân bón trong sản xuất nông nghiệp, nguồn tài nguyên quý giá này có nguy cơ bị<br />

suy thoái và cạn kiệt.


II, Nội dung<br />

Sau đây là một số hình ảnh mà nhóm chúng em đã chụp trong 1 buổi ngoại nghiệp <strong>tại</strong> 1 khúc<br />

của <strong>sông</strong> cửa tiền. Mời cô và các bạn cùng theo dõi :<br />

Các xác động vật chết được vứt xuống <strong>sông</strong> lam cho ô <strong>nhiễm</strong>, <strong>nước</strong> xanh đục , bốc mùi hôi<br />

thối


II, Nội dung<br />

Nước thải sinh hoạt thải trực tiếp ra <strong>sông</strong>


II, Nội dung<br />

Cuộc sống tạm bợ của người dân


II, Nội dung<br />

<strong>Ô</strong> <strong>nhiễm</strong> làm cho hệ sinh thái bị hủy hoại, cá chết tràn lan …


II, Nội dung<br />

hố tự hoại của người dân đổ trực tiếp ra <strong>sông</strong>


II, Nội dung<br />

Hình ảnh rác thải sinh hoạt ngổn ngang bên 2 bờ <strong>sông</strong>


II, Nội dung


II, Nội dung<br />

Chương III: Biện pháp<br />

3.1. Định hướng đưa ra giải pháp<br />

* Biện pháp phi công trình<br />

- Tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục cộng đồng bằng các phương tiện thông tin<br />

đại chúng nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ <strong>môi</strong> <strong>trường</strong>.<br />

- Thường xuyên thanh tra, kiểm tra,phát hiện các nhà máy,cơ sở sản xuất gây ô <strong>nhiễm</strong>.Từ đó<br />

sẽ có biện pháp xử lý phù hợp tùy vào mức độ vi phạm.<br />

- Tăng cường công tác quản lý từ các cơ sở nghành,địa phương.<br />

- Ban hành hệ thống chính sách,luật xử phạt đối với những hành vi vi phạm gây ô <strong>nhiễm</strong><br />

<strong>môi</strong> <strong>trường</strong>.<br />

- Cần xây dựng kế hoạch đánh giá tác động <strong>môi</strong> <strong>trường</strong>: thu thập, điều tra, phân tích, dự báo<br />

sự ô <strong>nhiễm</strong> ở các con <strong>sông</strong>.<br />

- Kiểm soát và ngăn chặn các nguồn <strong>nước</strong> thải chưa qua xử lý đổ thẳng ra <strong>sông</strong>.<br />

- Hợp tác trong khu vực và quốc tế.


II, Nội dung<br />

* Biện pháp công trình<br />

- Xây dựng các khu xử lý rác thải,chất thải tập trung.<br />

- Xây dựng các hồ chứa <strong>nước</strong> phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân.<br />

- Xây dựng các công trình vệ sinh hợp tiêu chuẩn cho người dân.<br />

- Tăng cường nguồn kinh phí và xây dựng cơ chế riêng cho công tác vớt cỏ,rác, lục bình,nạo<br />

vét thông thoáng <strong>sông</strong>,kênh rạch.<br />

- Cần lập quy hoạch toàn tuyến <strong>sông</strong> để tránh nguồn <strong>nước</strong> thải đổ trực tiếp vào <strong>sông</strong> mà đưa<br />

về các nhà máy tập trung.<br />

- Đầu tư trang thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại trong sản xuất và trong hệ thống xử lý rác<br />

thải của các nhà máy.<br />

- Trồng rừng để giảm thiểu ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong>.


II, Nội dung<br />

3.2.Giải pháp cụ thể của nhóm.<br />

- Sự ô <strong>nhiễm</strong> ở <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> chủ yếu là do hoạt động sinh hoạt của người dân. Vì vậy biện<br />

pháp cần thiết nhất là phải tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cho người dân. Trong một số<br />

<strong>trường</strong> hợp có thể xử phạt hành chính các hành vi vi phạm.<br />

- Đa số hộ gia đình sống ở khu vực gần <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> đều chưa có các công trình vệ sinh đạt<br />

chuẩn, chưa có hệ thống thoát <strong>nước</strong>. Nước thải từ các nguồn này sẽ làm ô <strong>nhiễm</strong> nguồn <strong>nước</strong><br />

của <strong>sông</strong>. Do đó cần xây dựng trong khu dân cư các công trình vệ sinh đạt chuẩn, các hệ thống<br />

thoát <strong>nước</strong> hợp lý tránh việc đổ thải trực tiếp ra <strong>sông</strong>.<br />

- Rác thải từ <strong>sông</strong> chủ yếu là rác thải mà người dân đổ thải trực tiếp ra <strong>sông</strong>. Cần thiết phải xây<br />

dựng một khu tập trung rác thải để thu gom toàn bộ rác từ các hộ dân, sau đó phân loại và xử lý<br />

riêng.<br />

- Nước ở <strong>sông</strong> có màu đen do ô <strong>nhiễm</strong> chất hữu cơ. Muốn xử lý được thì cần phải sử dụng các<br />

công nghệ cao, sử dụng các chế phẩm phun rải trên mặt hồ và các cống thải dẫn <strong>nước</strong> vào <strong>sông</strong><br />

để xử lý các chất ô <strong>nhiễm</strong>.<br />

- Ngoài ra có thể trồng một số loại cây thủy sinh có khả năng xử lý được các chất hữu cơ trong<br />

<strong>nước</strong> như: bèo tây, thủy trúc, sen…


III, Kết luận, kiến nghị<br />

1.Kết luận<br />

- Qua bài báo cáo trên có thể giúp mọi người nhận thấy được mức độ ô <strong>nhiễm</strong> của <strong>sông</strong><br />

<strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> nói riêng và các kênh mương trong thành phố Vinh nói chung đang ở mức báo<br />

động nghiêm trọng. Mà nguyên nhân chủ yếu là do ý thức của người dân còn chưa cao, thể<br />

hiện qua việc xả rác thải sinh hoạt trực tiếp ra <strong>sông</strong>; hoạt động xả thải của các cơ sở sản xuất<br />

gần khu vực <strong>sông</strong>. Và đặc biệt là cơ sở vật chất hạ tầng còn thấp,chưa có hệ thống cấp thoát<br />

<strong>nước</strong> hoàn chỉnh.<br />

- Tất cả những điều này đã làm cho nguồn <strong>nước</strong> <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> ngày càng bị ô <strong>nhiễm</strong><br />

nghiêm trọng . Gây ảnh hưởng tới <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> xung quanh ,chất lượng cuộc sống và sức<br />

khỏe cả người dân. Để giải quyết sự ô <strong>nhiễm</strong> của các con <strong>sông</strong> đòi hỏi cần phải có những<br />

giải pháp cụ thể,thiết thực. Hi vọng những định hướng giải pháp trên sẽ góp phần nào đó<br />

vào việc giảm thiểu sự ô <strong>nhiễm</strong> của con <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong>,giúp <strong>môi</strong> <strong>trường</strong> ở đây trong sạch và<br />

cuộc sống của người dân tốt đẹp hơn.


•<br />

III, Kết luận, kiến nghị<br />

2, Kiến nghị chung:<br />

- Cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc xử lý vấn đề ô <strong>nhiễm</strong> còn tồn <strong>tại</strong> trên.<br />

- Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp tức thời để cải thiện phần nào tình trạng ô<br />

<strong>nhiễm</strong> của <strong>sông</strong> <strong>Cửa</strong> <strong>Tiền</strong> hiện naytrước khi đưa ra và thực hiện những biện pháp chiến lược<br />

lâu dài trong việc cải tạo <strong>sông</strong>.<br />

- Phải có các chính sách buộc các nhà máy, cơ sở sản xuất có khâu xử lý <strong>nước</strong> thải trước<br />

khi thải ra nguồn.<br />

- Nhà <strong>nước</strong> nên có những chính sách ưu đãi để khuyến khích các nhà máy áp dụng các biện<br />

pháp sản xuất sạch hơn nhằm giảm thiểu tối đa lượng chất thải độc hại sinh ra.<br />

- Chính quyền địa phương cần quan tâm tới cuộc sống của người dân, có biện pháp quản lý<br />

tốt các hộ dân sống ở khu vực ven <strong>sông</strong>.<br />

- Các ngành có liên quan cần thường xuyên thanh tra,kiểm soát,đánh giá tác động ở các con<br />

<strong>sông</strong> để sớm ngăn chặn sự ô <strong>nhiễm</strong> cho các con <strong>sông</strong>.<br />

- Nên mở các lớp tập huấn cho quần chúng nhân dân để tuyên truyền,giáo dục về ý thức bảo<br />

vệ nguồn <strong>nước</strong>. Tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học cho các nhà nghiên cứu,nhà khoa học<br />

để tìm ra các giải pháp khắc phục sớm nhất sự ô <strong>nhiễm</strong>.


III, Kết luận, kiến nghị<br />

3. Kiến nghị đối với môn học.<br />

- Cần có những buổi thảo luận, đi khảo sát thực tế để có nhìn nhận, đánh giá chính xác hơn<br />

về sự ô <strong>nhiễm</strong> <strong>môi</strong> <strong>trường</strong>.<br />

- Trong quá trinh làm báo cáo chưa có được nhiều số liệu cụ thể,chính xác.

Hooray! Your file is uploaded and ready to be published.

Saved successfully!

Ooh no, something went wrong!