Bộ đề thi thử 2019 môn Ngữ Văn - Từ các trường chuyên gồm 82 đề có lời giải chi tiết (cập nhật đến 13.6.2019)

daykemquynhon

https://app.box.com/s/4wg3a19ud9cxsaofwwqstxa0bkv81107

B Ộ Đ Ề T H I T H Ử T H P T

Q U Ố C G I A N Ă M 2 0 1 9

vectorstock.com/22948427

Ths Nguyễn Thanh Tú

Tuyển tập

Bộ đề thi thử 2019 môn Ngữ Văn - Từ

các trường chuyên gồm 82 đề lời

giải chi tiết (cập nhật đến 13.6.2019)

PDF VERSION | 2019 EDITION

ORDER NOW / CHUYỂN GIAO QUA EMAIL

TAILIEUCHUANTHAMKHAO@GMAIL.COM

Tài liệu chuẩn tham khảo

Phát triển kênh bởi

Ths Nguyễn Thanh Tú

Đơn vị tài trợ / phát hành / chia sẻ học thuật :

Nguyen Thanh Tu Group

Hỗ trợ 24/7

Fb www.facebook.com/HoaHocQuyNhon

Mobi/Zalo 0905779594


TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC NINH

TỔ NGỮ VĂN

(Đề thi 1 trang)

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN 1

NĂM HỌC 2018 - 2019

Môn thi: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút không kể thời gian

phát đề

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Trong rất nhiều tin tức, những câu chuyện tiêu cực đầy rẫy trên báo chí, mạng xã hội trong

năm qua, trong đó nhiều tội ác đáng sợ, những vụ cướp của, giết người, những vụ hành hạ trẻ

nhỏ … xuất phát từ những người lòng dạ độc ác, bất lương, trong đó phần lớn là thanh niên,

thì hành động quên mình, cứu người của Hoàng Đức Hải sẽ khiến người ta phần nào quên đi

những tin tức đó và duy trì niềm tin về những điều tốt đẹp sẽ còn mãi trong đời thường.

Chỉ cách đây 3 tháng, trên Dân chí đã bài viết về một giám đốc doanh nghiệp trẻ,

Nguyễn Bá Luân cũng đã tự huy động, tổ chức tàu bè cứu thoát tới 200 người dân bị nạn, trôi

dạt trên biển ở Vạn Ninh – Khánh Hòa trong tâm cơn bão số 12. Nếu không hành động kịp

thời của anh Luân, đó thực sự là một thảm họa lớn về thiên tai trong năm 2017. Tất nhiên, anh

Luân cũng đã được Nhà nước, từ Chính phủ đến các cơ quan, đoàn thể địa phương khen thưởng,

tôn vinh.

Trước đó nữa, báo chí cũng đã từng đăng một bản tin cảm động về một thanh niên tên

Trần Hữu Hiệp (Thạch Thành, Thanh Hóa) đã ra tay cứu thoát 5 người trong một vụ tai nạn

đường thủy trên sông Soài Rạp (huyện Cần Giờ, TPHCM). Anh tử nạn do nhường áo phao của

mình cho một thai phụ bị đuối nước, còn chính mình thì đuối sức và chìm trong dòng nước.

Không dễ để kể hết những gương dũng cảm, cứu người trong thời gian gần đây và điều đó

cũng cho thấy, ở ta, những người tốt như những thanh niên trên không phải là hiếm. Rõ ràng là

họ đều ý thức được rất rõ ràng những nguy hiểm rất lớn cho bản thân và thực tế, đã nhiều

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

người mất mạng vì cứu người, nhưng đúng lúc nguy hiểm nhất thì họ dường như chỉ nghĩ đến

việc cứu người. Đó là những phút giây sinh tử không phải ai cũng làm được, đó thực sự là những

hành động của những người hùng – những anh hùng trong đời thực.

Đã nhiều hình thức khen thưởng, vinh danh xứng đáng cho những người quên mình cứu

người nói trên, nhưng cá nhân người viết bài này vẫn mong muốn những cách thức vinh danh

họ đặc biệt hơn nữa: Phong tặng danh hiệu anh hùng, hay tạc tượng, đặt tên cho những con

đường … để người dân sẽ nhớ mãi, ghi lòng những hành động nghĩa hiệp, phi thường của họ.

( Trích Những anh hùng trong đời thực – Mạnh Quân, báo Dân chí, 12/02/2018)


Câu 1: Nhận biết

Xác định phong cách ngôn ngữ chính của văn bản

Câu 2: Nhận biết

Theo tác giả, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, hành động quên mình cứu người của Hoàng Đức

Hải ý nghĩa gì?

Câu 3: Thông hiểu

Tại sao tác giả khẳng định những người như Hoàng Đức Hải, Nguyễn Bá Luân, Trần Hữu Hiệp

là những anh hùng trong đời thực?

Câu 4: Thông hiểu

Anh / chị đồng tình với ý kiến: Phong tặng danh hiệu anh hùng, hay tạc tượng, đặt tên cho

những con đường … để người dân sẽ nhớ mãi, ghi lòng những hành động nghĩa hiệp, phi thường

của họ. Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2.0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình

bày quan niệm về người anh hùng trong thời đại ngày nay.

Câu 2: (5.0 điểm) Vận dụng cao

Về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến hai đặc

điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng”. Qua sự cảm nhận đoạn thơ sau, anh/ chị

hãy bình luận ý kiến trên:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu là dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, SGK Ngữ văn 12, tập 1)


HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN VÀ LỜI GIẢI CHI TIẾT

PHẦN

NỘI DUNG

I. ĐỌC HIỂU Câu 1:

* Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học

* Cách giải:

- Phong cách ngôn ngữ báo chí.

Câu 2:

* Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn văn

* Cách giải:

Theo tác giả, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, hành động quên mình cứ người

của Hoàng Đức Hải sẽ khiến người ta phần nào quên đi những tin tức đó

(những tin tức không hay, những chuyện tiêu cực đầy rẫn trên báo chí, mạng

xã hội) và duy trì niềm tin về những điều tốt đẹp sẽ còn mãi trong đời thường.

Câu 3:

* Phương pháp: phân tích, lí giải

* Cách giải:

Họ là những người anh hùng trong đời thực vì: trong đời sống thường những

người như họ không hiếm gặp. Họ là những con người tốt bụng, dũng cảm

cứu người mà không màng đến sự nguy hiểm của bản thân. Rõ ràng là họ đều

ý thức được những nguy hiểm cho bản thân mình và thực tế đã nhiều người

mất mạng vì cứu người, nhưng đúng lúc nguy hiểm nhất thì họ dường như chỉ

nghĩ đến việc cứu người.

Câu 4:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

* Phương pháp: Phân tích, lí giải

* Cách giải:

Học sinh thể đồng ý hoặc không đồng ý với quan điểm của tác giả nhưng

lập luận phải chặt chẽ, thuyết phục

- Đồng ý: Họ là những người anh hùng, những hành động nghĩa hiệp nhiều

khi hi sinh cả tính mạng để cứu người bị nạn. Hành động đó xuất phát từ lòng

tốt, như vậy để bày tỏ lòng biết ơn, Nhà nước cần những hình thức khen

thưởng, vinh doanh họ một cách xứng đáng bằng những danh hiệu giá trị


tinh thần bền vũng. Phong tặng danh hiệu anh hùng, tạc tượng, đặt tên cho

những con đường. Việc vinh danh như vậy còn tác dụng giáo dục, nêu

gương tốt cho mọi người.

- Không đồng ý: Phong tặng anh hùng, tạc tượng, đặt tên cho những con

đường là cách vinh danh đặc biệt, ý nghĩa lớn lao với Nhà nước và nhân

dân dành cho những người anh hùng sự ảnh hưởng rộng lớn, cống hiến

vĩ đại cho cộng đồng, dân tộc. Việc khen thưởng, vinh danh những tấm gương

anh hùng trong đời thực là một việc nên làm nhưng chúng ta cần chọn hình

thức phù hợp

- Vừa đồng tình vừa không đồng tình: kết hợp cả hai ý kiến trên.

II. LÀM VĂN Câu 1:

* Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị

luận (bàn luận, so sánh, tổng hợp,…)

* Cách giải:

a. Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh thể trình bày đoạn văn

theo nhiều cách khác nhau.

b. Xác định vấn đề nghị luận: Người anh hùng trong thời đại ngày nay.

c. Triển khai vấn đề cần nghị luận: Vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và

dẫn chứng, rút ra bài học nhận thức và hành động.

- Mở bài: giới thiệu vấn đề cần nghị luận

- Thân bài: thể triển khai một số nội dung như:

+ Giải thích: Anh hùng là người những hành động phi thường, phẩm chất

cao đẹp, đóng góp lớn cho cộng đồng.

+ Biểu hiện của anh dùng thời nay: Quan niệm về anh hùng được mở rộng

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

. Anh hùng trong chiến đấu: Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, các chú bộ đội,

các chú công an… ngày đêm bảo vệ sự bình yên cho nhân dân.

. Anh hùng trong lao động:

Lao động sản xuất trực tiếp trong nông nghiệp, công nghiệp

Lao động trí tuệ trong các ngành khoa học

. Anh hùng tong đời thường: Những người dân thường nhưng những đóng

góp lớn nhưng hành động dũng cảm cứu người.


Họ tuy khác nhau về công việc, địa vị xã hội, nghề nghiệp, lứu tuổi nhưng đều

những đóng góp lớn cho cộng đồng, dân tộc và được Nhà nước và xã hội

tôn vinh.

+ Mở rộng: Tuy nhiên trong xã hội hiện nay còn một bộ phận không nhỏ sống

thiếu trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những vấn đề chung của cộng đồng,

những người như vậy đáng bị lên án.

+ Bài học nhận thức: Bản thân mỗi người cần tích cực tu dưỡng nhân cách,

những việc làm thiết thực cho gia đình và xã hội. Bắt đầu từ những việc nhỏ

nhất để chúng ta trở thành anh hùng trong chính những người thân yêu.

d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về

vấn đề nghị luận.

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tắc.

Câu 2:

* Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập

một văn bản nghị luận văn học.

* Cách giải:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: Có đủ các phần, trong đó phần

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát

được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận vẻ đẹp nội dung và nghệ

thuật của đoạn thơ trong Tây Tiến của Quang Dũng – những hoài niệm về

đồng đội của nhà thơ, chân dung người lính Tây Tiến với vẻ đẹp vừa lãng

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

mạn vừa bi tráng. Từ đó bình luận về cảm hứng lãng mạn và tính chất bi

tráng trong đoạn thơ.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao

tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng Trên cơ sở những hiểu

biết về tác giả, tác phẩm cũng như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần

bi tráng, thí sinh thể triển khai theo nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề

nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

* Giới thiệu khái quát tác giả Quang Dũng, tác phẩm Tây Tiến, đoạn thơ


và trích dẫn ý kiến về bài thơ Tây Tiến.

- Về tác giả: Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và

soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng

khoáng, hồn hậu và tài hoa.

- Về tác phẩm: Tây Tiến (in trong tập Mây đầu ô, 1986), tiêu biểu cho đời thơ

Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây tiến

còn là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về người lính Cách mạng

Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.

Tây Tiến ra đời cuối năm 1948 tại Phù Lưu Chanh – Hà Đông, khi Quang

Dũng đã rời xa đơn vị Tây Tiến. Lúc đầu, bài thơ tên Nhớ Tây Tiến, sau

được đổi thành Tây Tiến. Cảm xúc chủ đạo của bài Tây Tiến là nỗi nhớ …

- Về đoạn thơ: “Bài thơ Tây Tiến hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng

mạn và chất bi tráng”, biểu hiện đậm nét trong đoạn thơ khắc tạc bức tượng

đài bất tử về người lính Tây Tiến anh hùng:

* Giải thích: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng.

- Cảm hứng lãng mạn trong văn học là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy

cảm xúc, hướng về lý tưởng, thích đắm mình vào thế giới phi thường, bí hiểm

và những vể đẹp xa lạ. Cảm hứng lãng mạn thường đề cao những cảm nhận

chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng, liên tưởng. Bút pháp

lãng mạn thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, sử dụng nhiều

yếu tố cường điệu, thủ pháp đối lập, tương phản để tô đậm cái khác thường,

gây ấn tượng mạnh mẽ. Với cảm hứng lãng mạn, không chỉ vẻ hào hùng

bay bổng hay cái cao cả mà nỗi đau, cái buồn, nỗi cô đơn, cảnh chia li, cái

chết… cũng là phạm trù thẩm mĩ.

- Trong Tây Tiến, cảm hứng lãng mạn gắn liền với tinh thần bi tráng: vừa gợi

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

những buồn đau, mất mát, bi thương vừa hào hùng, mạnh mẽ - bi mà không

lụy. Cái bi được thể hiện bằng giọng điệu, âm hưởng tráng lệ, hào hùng.

* Cảm nhận vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ – gắn liền với

cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

1) Cảm nhận đoạn thơ:

Tây Tiến là dòng hồi ức về đồng đội của nhà thơ. Trên nền thiên nhiên núi

rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội mà thơ mộng, Quang Dũng đã khắc tạc một

bức tượng đài sừng sững về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn và tinh


thần bi tráng.

- Hình tượng người lính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua dáng vẻ,

ngoại hình: Tác giả không miêu tả cụ thể mà bằng bút pháp lãng mạn đã

khái quát chân dung của cả một binh đoàn lì dị, khác thường.

+ Hai câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai

hùm” là lời giới thiệu độc đáo, một lối định nghĩa đầy tự hào về lính Tây

Tiến:

. đoàn binh không mọc tóc

. quân xanh màu lá

. dữ oai hùm

+ Hai câu thơ gợi tả dáng vẻ mà cho ta hiểu về cuộc sống chiến đấu gian khổ

của đoàn binh Tây Tiến. Quang Dũng không thể né tránh sự thật nhưng nhà

thơ đã lãng mạn hóa hiện thực.

Bút pháp tương phản, cách nói trẻ trung, ngang tàng đậm chất lính của thơ

Quang Dũng đã tạo ấn tượng khác lạ. Người lính Tây Tiến ốm mà không yếu.

Bề ngoài tiều tụy nhuốm chút phong sương nhưng vẫn toát lên vẻ oai phong

lẫm liệt, ẩn chứa một sức mạnh tinh thần lớn lao.

- Hình tượng người linh Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua đời sống tâm hồn/

thế giới nội tâm:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

+ Vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến:

. Mắt trừng: sự dồn nén cảm xúc căm thù biểu hiện qua ánh mắt bừng bừng

lửa giận. Chữ trừng vừa gợi hình vừa gợi cảm, dữ dội và mạnh mẽ, gắn liền

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

với chất hùng tráng của hình tượng người lính Tây Tiến.

. gửi mộng qua biên giới: giấc mộng chiến trường, mộng diệt thù lập công của

người anh hùng thời loạn.

+ Vẻ đẹp hào hoa với tâm hồn lãng mạn, mộng mơ của lính Tây Tiến.

. Đêm mơ Hà Nội...

. dáng kiều thơm.

Ở nơi biên cương viễn xứ, niềm thương nhớ hằng đêm vẫn hướng về HN, về

một dáng kiều thơm. Ẩn bên trong vẻ ngoài bệnh tật, ốm đau và vẻ dữ dằn là


tâm hồn vô cùng lãng mạn, bay bổng. Thế gới tâm hồn phong phú, giàu tình

cảm khiến hình ảnh người lính trở nên thật hơn, đẹp hơn, con người hơn, rất

đỗi đời thường, gần gũi. Cảm hứng anh hùng kết hợp với bút pháp lãng mạn,

sự tương phản đối lập trong ngôn từ và hình ảnh thơ (mắt trừng >< mơ Hà

Nội dáng kiều thơm) làm nổi bật vẻ đẹp của những người anh hùng mơ mộng.

- Hình tượng người kính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua tư thế lên

đường vì lí tưởng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

+ Những nấm mồ nằm rải rác dọc biên giới phản ánh hiện thực khốc liệt, gợi

nỗi bùi ngùi thương cảm. Tuy nhiên, cau thơ bi mà không lụy. Nhữn từ HV

trang trọng, thiêng liêng biên cương, viễn xứ đã biến những nấm mồ hoang

lạnh thành mộ chí tôn nghiêm vĩnh hằng, khiến câu thơ mang âm hưởng bi

hùng của những vần thơ biên tái xưa.

+ Câu thơ tiếp theo khẳng định khí phách của tuổi trẻ một thời, tôn len vẻ đẹp

anh hùng, át đi cảm giác bi thương khi nói về cái chết: Chiến trường... đời

xanh. Hai chữ chẳng tiếc thể hiện sự dứt khoát, tinh thần hoàn toàn tự nguyện,

thanh thản khi hiến dâng tuổi trẻ, quãng thời gian đẹp nhất cho Tổ quốc.

=> Vẻ đẹp chói ngời lí tưởng cao cả, coi cái chết là sự hiến dâng đem lại tính

chất bi tráng cho đoạn thơ, biến những nấm mồ nằm rải rác nơi biên viễn trở

thành đài tưởng niệm sừng sững ghi danh người lính Tây Tiến anh hùng.

- Hình ảnh người lính Tây Tiến lãng mạn và bi tráng qua sựu hi sinh lặng

thầm mà cao cả:

Áo bào thay chiến anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

+ Người lính Tây Tiến hi sinh nơi núi rừng miền Tây không cả manh chiếu

bọc thân, chỉ tấm áo vải bạc màu sờn rách vì nắng gió, thấm mồ hôi và

thấm cả máu, giừ bao bọc hình hài, đưa anh về vời đất mẹ.

+ Tuy nhiên, câu thơ Quang Dũng không dừng ở tả thực mà tràn đầy cảm

hứng bi tráng. Qua cái nhìn của nhà thơ, người lính hi sinh như được bọc

trong tấm áo bào sang trọng. Chiếc áo bào chiến cuộc đưa tiễn bi thương trở

thành trang nghiêm cổ kính, tôn vinh sự hy sinh cao cả. Những người chiến sĩ

Tây Tiến không chết đi mà về với đất, hóa thành sông núi quê hương.


=> Nói về cái chết nhưng lại bất tử hóa người lính. Nói về sự bi thương nhưng

hình ảnh thơ thật hùng tráng: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Sông Mã đại

diện cho giang sơn sông núi, tiễn đưa người chiến sĩ vào cõi bất tử. Lần thứ

hai tỏng bài thơ, Quang Dũng đã dùng chữ gầm nhân hóa dòng sông, vừa bộc

lộ cảm xúc mãnh liệt, vừa tạo không khí bi hùng, làm toát lên hào khí 1 thời

Tây Tiến.

2) Đánh giá khái quát:

Tám câu thơ đã làm nổi bật phong cách nghệ thuật Quang Dũng: phóng

khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Âm hưởng cổ kính và trang trọng từ

những câu thơ thất ngôn, những từ Hán Việt được sử dụng đắc địa và hình ảnh

chiếc áo bào; giọng thơ đầy hào khí pha chút ngang tàng ngạo nghễ, phong

sương; những biện pháp tu từ nói giảm nói tránh anh về đất hay nhân hóa

Sông Mã gầm lên khúc độc hành, ngôn ngữ thấm đẫm chất văn chương của

những chàng trao Hà thành lãng mạn (gửi mộng, dáng kiều thơm, đời

xanh,…) đã đem đến cho đoạn thơ một vẻ đẹp đặc biệt, góp phần khắc hoạn

thành công hình tượng người lính Tây Tiến vô cùng độc đáo: “tiều tụy mà lẫm

liệt, lam lũ mà hào hùng, dữ dẵn mà đa cảm và đầy thơ mộng” (GS.Nguyễn

Đăng Mạnh)

* Bình luận ý kiến:

- Đoạn thơ phảng phất phong thái anh hùng, trượng phu của con người Quang

Dũng. Bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng bút pháp tương

phản, vừa hiện thực vừa lãng mạn, từng đường nét như được khắc đậm bằng

những ngôn từ, hình ảnh đầy ấn tượng, làm nên vẻ đẹp riêng của hình tượng

người lính Tây Tiến, thật khác lạ so với những bài thơ về người lính Cách

mạng cùng thời.

- Bằng sự kết hợp bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

khắc tạc bức tượng đài người lính Cách mạng vừa chân thực với những nét

độc đáo của lính Tây Tiến, vừa sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp và sức

mạnh của dân tộc trong thời đại gian khổ mà hào hùng. Tám câu thơ mà nói

đủ diện mạo, tâm hồn, khí hách, thái độ trước cái chết và vẻ tự hào rất Hà

Thành của người lính Tây Tiến. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm

hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến, được khắc tạc bằng tình yêu thương gắn

bó, niềm trân trọng tự hào và cảm hứng ngợi ca của Quang Dũng đối với đồng

đội, với cuộc kháng chiến gian khổ của cái thời mơ mộng, lãng mạn và hào


hùng một đi không trở lại.

d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện những suy nghĩ sâu sắc mới

mẻ về vấn đề nghị luận.

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tắc.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC NINH

TỔ NGỮ VĂN

ĐỀ THI ĐỊNH KÌ LẦN 2 NĂM HỌC 2018 – 2019

Môn thi: Ngữ văn 12

Thời gian: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I. ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Quán hàng phù thủy

Một phù thủy

Mở quán hàng nho nhỏ

“Mời vào đây

Ai muốn mua gì cũng !”

Tôi là khách đầu tiên

Từ bên trong

Phù thủy ló ra nhìn:

“Anh muốn gì? ”

“Tôi muốn mua tình yêu,

Mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn... ”

“Hàng chúng tôi chỉ bán cây non

Còn quả chín, anh phải trồng. Không bán!”

(Thái Bá Tân dịch)

Câu 1: Nhận biết

Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2: Nhận biết

Tìm và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong văn bản trên.

Câu 3: Thông hiểu

Giải thích tại sao: tình yêu, hạnh phúc, bình yên, tình bạn lại phải trồng, không bán?

Câu 4: Thông hiểu

Bài học nhận được từ văn bản này là gì?

II. LÀM VĂN

Câu 1: Vận dụng cao

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về triết lí nhân sinh được gửi gắm trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2: Vận dụng cao

Nhận xét về hình tượng sông Đà trong thiên tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân ý kiến cho

rằng: “Con sông Đà mang vẻ đẹp hung bạo”. Ý kiến khác lại cho rằng: “Sông Đà hấp dẫn người đọc bởi vẻ đẹp

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


trữ tình”.

Bằng cảm nhận về hình tượng sông Đà, hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về các ý kiến trên.

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Phần/ Câu

I

ĐỌC HIỂU

Nội dung

1 Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học: nghệ thuật, sinh hoạt,...

Cách giải: Phong cách ngôn ngữ: nghệ thuật.

2 Phương pháp: căn cứ biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, phân tích, tổng hợp.

Cách giải:

- Hình ảnh ẩn dụ: cây non, quả chín ,

- Hình ảnh cây non được hiểu là những hạt mầm mà ta gieo vào cuộc sống, là sự khởi đầu, là

nền tảng đầu tiên của cuộc sống.

- Hình ảnh quả chín là những kết quả mà ta đạt được, là thành công, là những điều tốt đẹp mà

ta thu được từ cuộc sống. Trong văn bản, quả chín chính là tình yêu, hạnh phúc, bình yên, tình

bạn, những giá trị tinh thần mà con người luôn khao khát.

3 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Vì:

- Tình yêu, hạnh phúc, bình yên, tình bạn là những giá trị thuộc lĩnh vực tinh thần và đó là

những giá trị tinh thần cao quý, vừa gần gũi, tha thiết vừa là thứ con người luôn khao khát mơ

ước.

Nó là kết quả của tình cảm chân thành, thiết tha không vụ lợi, là sự nỗ lực tự tìm kiếm, vun

đắp, nuôi dưỡng của chính bản thân mình, nó là thức quả hái từ chính cây non chúng ta trồng

chứ không thể mua bởi bất cứ tiền bạc, sức mạnh nào.

4 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Học sinh tự rút bài học cho riêng mình, thể là:

II

- Trên đời những thứ không tiền bạc, sức mạnh nào, quyền lực nào thể mua nổi.

- Trong cuộc sống, con người luôn phải khát vọng hướng tới những giá trị cao đẹp.

Phải chính bàn tay ta xây đắp, tạo dựng tình yêu, hạnh phúc, bình yêu, tình bạn là một quá

trình lâu dài, không sẵn cho nên không được nản lòng, phải ý chí, nghị lực. Hơn thế phải

tình cảm chân thành, không vụ lợi, phải phương hướng hành động đúng đắn.

LÀM VĂN

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Yêu cầu chung:

- Thí sinh thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đủ số chữ theo yêu cầu.

- Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể


- Giới thiệu chung.

- Phân tích:

+ Tình yêu, hạnh phúc, bình yên, tình bạn là quả chín mà quán hàng phù thủy quyền năng

từng tuyên bố “ai mua gì cũng ” lại không bán và còn khẳng định “phải trồng”. Từ một câu

chuyện tưởng như vô lí trong Quán hàng phù thủy tác giả đã nêu lên một bài học sâu sắc về

cuộc đời và con người: trên đời những thứ mà không tiền bạc, sức mạnh nào mua được

mà phải tự tay tìm kiếm, vun đắp mới được. Cây non thể là kết quả chín là do sự vun

trồng, chăm sóc của chính mình.

- Triết lí nhân sinh được gửi gắm trong văn bản chính là: tình yêu, hạnh phúc, bình yên, tình

bạn và muôn vàn mơ ước khác đều do chính con người làm ra. Muốn những giá trị tinh

thần to lớn đó cần phải thời gian, công sức, phải xuất phát từ tình cảm chân thành, không

vụ lợi, toan tính.

- Quá trình tìm kiếm, tạo dựng tình yêu, hạnh phúc ... là một quá trình lâu dài, không sẵn

nên cần ý chí, nghị lực. Hạnh phúc không phải ở ngày gặt hái mà nằm ngay trong quá trình

vun đắp, giữ gìn, vượt quá khó khăn, gian nan, thử thách.

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

* Yêu cầu chung:

- Đảm bảo đủ các phần trong một bài văn.

- Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

- Các luận điểm triển khai theo trình tự hợp lí, sự liên kết chặt chẽ, sử dụng linh hoạt các

thao tác lập luận; biết kết hợp giữa lí lẽ với đưa ra dẫn chứng.

* Yêu cầu cụ thể

1. Giới thiệu chung: về tác giả, tác phẩm, trích dẫn ý kiến.

2. Phân tích, chứng minh vấn đề

2.1. Giải thích nhận định

- Ý kiến thứ nhất: sông Đà mang vẻ đẹp hung bạo là nhìn nhận con sông ở vẻ đẹp hung vĩ, dữ

dội.

- Ý kiến thứ hai: sông Đà mang vẻ đẹp trữ tình là nhìn nhận con sông ở góc độ mơ mộng, lãng

mạn.

=> Bởi vì, con sông Đà không chỉ được nhìn bằng đôi mắt thẩm mĩ của một nhà nghệ sĩ mà

con bằng ngòi bút của một nhà văn tài hoa Nguyễn Tuân - con sông Đà đã trở nên một sinh thể

sống động, một nhân vật đầy sức sống và tính cách chứ không phải là một thiên nhiên vô

tri, vô giác. Qua cách mô tả đặc sắc của Nguyễn Tuân, con sông Đà hai nét tính cách tưởng

như đối lập nhau: hùng vì, hung bạo, dữ dằn, vừa trữ tình, thơ mộng và rất gợi cảm.

2.2. Cảm nhận về hình tượng con sông Đà.

a. Vẻ đẹp dữ dội, hung vĩ:

Sự hung bạo thể hiện ở cảnh đá bờ sông dựng vách thành: 1)1 11

- Hình ảnh “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới mặt trời” đã gợi ra được độ cao và diễn

tả được cái lạnh lẽo, âm u của khúc sông.

- Hình ảnh so sánh “vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu” đã diễn tả sự nhỏ

hẹp của dòng chảy gợi ra lưu tốc rất lớn nhất là vào mùa nước lũ với bao nhiêu nguy hiểm rình

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


ập.

- Bằng liên tưởng độc đáo, Nguyễn Tuân đã tiếp tục khắc sâu ấn tượng về độ cao của những

vách đá, sự lạnh lẽo, u tối của đoạn sông và sự nhỏ hẹp của dòng chảy “ngồi trong khoang đò

qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà

ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.

Sự hung bạo thể hiện ở ghềnh đá “quãng mặt ghềnh Hát Loóng”

- Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ thuê: dữ dằn, gắt gao, tàn bạo.

- Điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc (nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió) được hỗ trợ bởi những

thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương, dồn dập như vừa xô

đẩy, vừa họp sức của sóng, gió và đá khiến cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn,

tạo nên một mối đe dọa thực sự đối với bất kì người lái đò nào “quãng này mà khinh suất tay

lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.

Sự hung bạo thể hiện ở những “cái hút nước” chết người:

Sự khủng khiếp tàn độc.

+ Được tái hiện từ các góc nhìn khác nhau: từ trên nhìn xuống mặt nước sông “giống như cái

giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, từ dưới lòng sông nhìn ngược lên

“thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê

xanh

như sắp vỡ tan ụp vào...”

+ Được cảm nhận từ các vị thế trải nghiệm khác nhau:

> Vị thế của người quay phim “ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả

mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà...”

> Vị thế của người xem phim “thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một

chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn... ”

+ Được cảm nhận bằng các giác quan khác nhau: thị giác là những hình ảnh liên tưởng độc

đáo và mới lạ; thính giác: lúc thì “nước ở đây thở và kêu như cửa cổng cái bị sặc ”, lúc thì

“nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”

Giải pháp: “Không thuyền nào dám men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào qua cũng

chèo nhanh để lướt quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng

đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng

sâu…”

=> Đó chính là sự minh chứng rõ nhất cho mức độ nguy hiểm tột cùng của những cái hút

nước.

Hậu quả khủng khiếp mà những cái hút nước gây ra:

- “Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống”

- “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt

biến đi, bị dìm và bị đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh

sông dưới ”

Sự hung bạo thể hiện ở chiến trường sông Đà

* Dấu hiệu đầu tiên là âm thanh tiếng nước thác: Âm thanh phong phú: lúc thì nghe như là

oán trách, lúc như van xin, khi thì khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, đặc biệt lúc rống

lên gầm thét những âm thanh cuồng nộ, ghê sợ để trấn áp con người.

* Các trùng vi thạch trận:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Trùng vi thạch trận thứ nhất

Đó là “cả một chăn trời đá", “mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn

nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này”.

+ Đá ở con thác này biết bày binh bố trận như Binh pháp Tôn Tử, gồm năm cửa trận, trong đó

bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông”.

+ Cửa sinh lại chia làm ba tuyến - tiền vệ, trung vệ, hậu vệ - đòi ăn chết con thuyền đơn độc.

Khi thạch trận bày xong, đá phối hợp với nước thác dữ dội và nham hiểm

- Trùng vi thạch trận thứ hai

+ Khúc sông này càng tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền, và cũng chỉ một cửa

sinh. Cửa sinh ấy lại không kém phần nguy hiểm khi “thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào”

+ Phối hợp với đá là “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh (lao nhanh) trên sông đà”

+ Cùng với đó là bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ xô ra, đòi “níu thuyền lôi vào tập

đoàn cửa tử.”

Trùng vi thạch trận thứ ba

Ít cửa ra vào, “bên phải bên trái đều là luồng chết cả”, chỉ một luồng sống lại “ở ngay

giữa bọn đá hậu vệ của con thác”

b. Con sông trữ tình:

Góc nhìn từ trên cao (máy bay), Sông Đà mang vẻ đẹp của một mĩ nhân

* Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông giống như “cái dây thừng ngoằn

ngoèo dưới chân mình”, đặc biệt là giống như mái tóc của người thiếu nữ “con sông Đà tuôn

dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung

nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

- Dòng sông mang vẻ đẹp của một áng tóc trữ tình mềm mại, tha thướt và duyên dáng.

- Vẻ đẹp của dòng sông hài hòa với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng điểm tô thêm cho nhan

sắc mĩ miều.

* Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian khác nhau, tác giả đã phát hiện ra những sắc màu tươi

đẹp và đa dạng của dòng sông. Màu nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa vẻ đẹp riêng trong

cách so sánh rất cụ thể:

- Mùa xuân, nước Sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, lấp lánh

- Mùa thu, nước Sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ

cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về ”

- Đặc biệt, nhà văn khẳng định chưa bao giờ con sông màu đen như thực dân Pháp đã “ đè

ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào”, và gọi bằng cái tên lếu láo Sông Đen.

Góc nhìn từ bờ bãi sông Đà, dòng sông mang vẻ đẹp của một “cố nhân”

- Vẻ đẹp của nước Sông Đà gợi nhớ đến một trò choi của con trẻ “trước mắt thấy loang loáng

như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”, đẹp một cách hồn nhiên và trong

sáng.

- Vẻ đẹp của nắng sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới Đường thi “tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên

một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (Xuôi thuyền về

Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói).

- Vẻ đẹp của bờ bãi sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới thần tiên trong khu vườn cổ tích “bờ sông

Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


=> nhà văn đã cảm nhận được cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân thuộc khi gặp lại sau một thời

gian “ở rừng đi núi đã hơi lâu”.

Góc nhìn từ giữa lòng sông Đà, con sông mang vẻ đẹp của một người tình nhân:

+ Đó là vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, thanh bình như còn lưu lại dấu tích của lịch sử cha ông.

+ Đó là vẻ đẹp tươi mới, tràn trề nhựa sống, như bắt đầu một mùa nảy lộc sinh sôi.

+ Đó còn là vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính

- Cảnh đẹp quá nên đã gợi cảm hứng cho thi ca bao đời. Vẻ đẹp ấy đã cùng với sông Đà chảy

qua không gian, thời gian, và đặc biệt là chảy qua cả những áng thơ ca bao đời, thơ Nguyễn

Quang Bích rồi Tản Đà... để trở thành bất tử. Trong cái nhìn của thi sĩ Tản Đà, Sông Đà đã trở

thành “một người tình nhân chưa quen biết”.

c. Bình luận ý kiến

- Hai ý kiến đều đúng, mỗi ý kiến là một góc nhìn sâu sắc, tinh tế tác dụng nhấn mạnh

nhữngvẻ đẹp khác nhau của hình tượng sông Đà: vừa những nét hung bạo, hung vĩ vừa

vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng.

- Hai ý kiến tuy khác nhau tưởng là đối lập thực tế lại bổ sung cho nhau, hợp thành sự nhìn

nhận toàn diện và thống nhất trọn vẹn về vẻ đẹp của sông Đà.

- Lí giải: Bằng ngòi bút tài hoa, uyên bác, Nguyễn Tuân đã xây dựng hình tượng sông Đà như

một linh hồn. Con sông ấy mang hai gương mặt của một con người vừa hung bạo, vừa trữ

tình.

3. Đánh giá chung

- Với vẻ đẹp hung bạo và vẻ đẹp trữ tình, Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc những hiểu

biết phong phú về vẻ đẹp của dòng sông Việt Nam qua nhiều lĩnh vực.

- Qua đó thể hiện tình yêu quê hương đất nước của nhà văn.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHOA HỌC TỰ NHIÊN

------------------------------------------------------------------------------------------------

ĐỀ THI THỬ KÌ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2019 - LẦN 1

Môn thi: Ngữ văn Lớp: 12 Thời gian làm bài: 120 phút

Đề thi : 02 trang

Phần I: Đọc - hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:

Tỉ phú Hồng Kông Yu Pang - Lin vừa qua đời ở tuổi 93, để lại di chúc hiến toàn bộ tài sản trị giá

khoảng 2 tỉ USD cho hoạt động từ thiện. Ông giải thích hành động của mình: “Nếu các con tôi giỏi hơn tôi

thì chẳng cần phải để nhiều tiền cho chúng. Nếu chúng kém cỏi thì nhiều tiền cũng chỉ hại cho chúng

mà thôi”. Yu Pang - Lin không phải là người đầu tiên trên thế giới “keo kiệt” với con nhưng lại hào phóng

với xã hội. Người giàu nhất thế giới - Bill Gates - từng tuyên bố sẽ chỉ để lại cho con 0,05% tổng tài sản kếch

xù của mình. Báo chí hỏi tại sao lại như vậy, ông trả lời đại ý: Con tôi là con người, mà đã là con người thì

phải tự kiếm sống, không chỉ kiếm sống để phục vụ chính bản thân mình mà còn phải góp phần thúc đẩy xã

hội. Đã là con người thì phải lao động. Tại sao tôi phải cho con tiền?

[...]. Có người nói rằng, hai thứ mà cha mẹ cần trang bị cho con cái và chỉ hai thứ đó là đủ, còn

không, nếu để lại cho con thứ gì đi nữa mà thiếu hai đó thì coi như chưa cho con gì cả. Hai thứ đó là: ý

thức tự trách nhiệm về bản thân mình và năng lực để tự chịu trách nhiệm.

(Theo Nhật Huy, Không để lại tiền cho con, Dẫn theo http://tuoitre.vn, ngày 10/5/2015)

Câu 1. Nhận biết

Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

A. Khoa học B. Nghệ thuật C. Báo chí D. Chính luận

Câu 2. Thông hiểu

Vì sao những người cha tỉ phú như Yu Pang - Lin, Bill Gates. không muốn để lại nhiều của cải cho con cái?

Câu 3. Thông hiểu

Anh/chị đồng ý kiến: “Đã là con người thì phải lao động” không? Vì sao?

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị hiểu “ý thức tự chịu trách nhiệm về bản thân mình và năng lực để tự chịu trách nhiệm” nghĩa là gì?

Phần II: Làm văn (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm): (ID: 304543) Vận dụng cao

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ), trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau: “Có người nói rằng,

hai thứ mà cha mẹ cần trang bị cho con cái và chỉ hai thứ đó là đủ, còn không nếu để lại cho con thứ

gì đi nữa mà thiếu hai đó thì coi như chưa cho con gì cả. Hai thứ đó là ý thức tự chịu trách nhiệm về bản

thân mình và năng lực để tự chịu trách nhiệm”.

Câu 2 (5,0 điểm): (ID: 304544) Vận dụng cao

Trình bày cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp cho dòng sông xanh thẳm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên

Con c, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta ...

(Trích Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm, Dẫn theo Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.120)

-------------Hết-------------

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh: ...........................................................; Số báo danh:………………………..

Phần/ Câu

I

ĐỌC HIỂU

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Nội dung

1 Phương pháp: căn cứ các phong cách nghệ thuật đã học

Phương án: C. Báo chí

2 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Vì:

Nếu con cháu họ tài giỏi, chúng sẽ tự kiếm được tiền. Nếu chúng kém cỏi thì của cải sẵn

chỉ làm hại thêm (lười biếng, ỷ nại, sa vào các tệ nạn xã hội...).

- Muốn con ý thức tự chịu trách nhiệm với chính mình và năng lực để tự chịu trách

nhiệm.

3 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

- Đồng tình.

Vì:

+ Lao động là phương thức để con người tồn tại và khẳng định bản thân.

+ Lao động là cách thức con người khẳng định, nâng cao giá trị của mình.

+ Bởi vì lao động là trách nhiệm của mỗi người, không chỉ để nuôi sống bản thân và phát

triển tiềm năng của mỗi người mà còn góp phần phát triển xã hội.

4 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Có thể hiểu là:

II

• Con người phải ý thức tự chịu trách nhiệm về mọi suy nghĩ, hành động, về trí tuệ,

nhân cách của chính mình.

• Có năng lực để tự chịu trách nhiệm nghĩa là phải tri thức (kiến thức chuyên môn,

hiểu biết về đời sống), khả năng lao động - sáng tạo, đạo đức - phẩm chất

LÀM VĂN

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


1 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Yêu cầu chung: Thí sinh phải biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã

hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải bố cục đầy đủ, rõ ràng, văn viết cảm xúc; diễn đạt

trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

* Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận (0,25 điểm):

Điểm 0,25 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn. Phần

Mở đoạn biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân đoạn biết tổ chức thành nhiều

câu văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết đoạn khái quát được

vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

Điểm 0: Thiếu Mở đoạn hoặc Thân đoạn chỉ 1 câu văn hoặc cả đoạn văn bị chia

nhỏ thành nhiều đoạn.

* Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Vai trò, ý nghĩa của ý thức và năng

lực tự chịu trách nhiệm đối với cuộc sống và sự nghiệp của mỗi người.

* Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển

khai theo trình tự hợp lí, sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển

khai các luận điểm (trong đó phải thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết

hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và

sinh động

a) Giới thiệu vấn đề Vai trò, ý nghĩa của ý thức và năng lực tự chịu trách nhiệm đối với

cuộc sống và sự nghiệp của mỗi người

b) Giải thích

Ý thức tự chịu trách nhiệm về bản thân mình: chịu trách nhiệm về mọi suy nghĩ, hành

động, sự trưởng thành về trí tuệ và nhân cách của chính mình.

Năng lực để tự chịu trách nhiệm bao gồm:

o Tri thức (Hiểu biết về cuộc sống và thế giới xung quanh, kiến thức chuyên

môn...)

o Khả năng lao động, sáng tạo.

o Đạo đức, nhân cách: lòng trung thực, nghị lực sống, quan niệm sống đúng đắn...

c. Bàn luận

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Ý thức và năng lực tự chịu trách nhiệm về bản thân mình giúp con người nhận

thức và hành động đúng đắn trong cuộc sống, biết tự trọng cá nhân và tôn trọng người khác,

luôn đòi hỏi chính mình nỗ lực vươn lên để sáng tạo và cống hiến.

Có ý thức và năng lực tự chịu trách nhiệm về bản thân, con người tài sản gốc quý

báu để sinh lời, không phải "vay mượn", không phải sống nhờ người khác.

Lấy dẫn chứng bàn luận, chứng minh.

d. Bài học nhận thức và hành động

2 * Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn

chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,...) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.


*Cách giải:

Yêu cầu hình thức:

- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản.

- Bài viết phải bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm

tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu nội dung:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ ông hấp dẫn

bởi sự kết hợp giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con

người Việt Nam.

- Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm

1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền

Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhịp

với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Đoạn trích Đất Nước (phần đầu chương V

của trường ca) là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện

đại.

Phân tích thơ:

Với Nguyễn Khoa Điềm, nhân dân chính là người đã làm ra Đất Nước nên “Đất Nước này

là Đất Nước của nhân dân”. Và để đi đến tư tưởng đó, tác giả đã lần lượt chứng minh trên

các phương diện địa lý.

Tám câu đầu: Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những địa danh, thắng cảnh:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên.

Con c, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

- Đoạn thơ sự xuất hiện với mật độ dày đặc của những địa danh quen thuộc: Núi Vọng

Phu, hòn Trống Mái, núi Bút, non Nghiên,... làm nên bức tranh sống động về thiên nhiên

quê hương đất nước. Đồng thời, nó còn gợi liên tưởng sâu xa về vẻ đẹp tâm hồn con người

VN ẩn chứa trong dáng hình sông núi.

- Đoạn thơ mang một kết cấu lạ. Độ dài ngắn của những câu thơ khác nhau nhưng đều

mang một cấu trúc: chia thành hai nửa liên kết với nhau bằng những động từ: góp, góp cho,

góp nên, góp tên, góp mình....

=> đằng sau những danh lam thắng cảnh nổi tiếng là những cuộc đời đã đóng góp âm thầm

và lặng lẽ.

* Bốn câu cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hoá thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất

Nước. Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi

ngọn núi, dòng sông, miền đất này:

Và ở đâu trên khắp ruộng đông gò bãi

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


* Tổng kết

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi ĐN sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

- Giá trị nội dung: Đoạn trích đã thể hiện những suy nghĩ và tình cảm tha thiết, sâu sắc của

tác giả về đất nước ở nhiều bình diện với tư tưởng bao trùm: Đất Nước của Nhân Dân.

- Đặc sắc nghệ thuật: kết hợp chất chính luận và trữ tình, vận dụng phong phú chất liệu

văn hóa và văn học dân gian, thể thơ tự do với sự biến đổi linh hoạt về nhịp điệu.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

*


SỞ GD&ĐT HẢI PHÒNG

TRƯỜNG THPT CHUYÊN TRẦN PHÚ

ĐỀ CHÍNH THỨC

(Đề thi 02 trang)

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN 1

NĂM HỌC 2018 - 2019

MÔN: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:…………………….

Số báo danh:......……………………....

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Kim Woo Chung; người sáng lập nên tập đoàn Deawoo từng viết trong quyển sách Thế giới quả là rộng

lớn và rất nhiều việc phải làm rằng: “Lịch sử thuộc về những người biết ước mơ. Ước mơ là động lực

thay đổi thế giới. Tôi cam đoan rằng tất cả những người đang làm nên lịch sử thế giới ngày hôm nay đều

những ước mơ lớn khi còn trẻ”. Dù thay đổi bản thân mình hay thay đổi thế giới, thì người ta cũng bắt đầu

bằng ước mơ.

Con đường theo đuổi ước mơ là con đường không bao giờ an toàn, cũng không phải là con đường dễ

dàng. Đôi khi ta phải chấp nhận đi đường vòng, làm việc mình không thích để nuôi dưỡng ước mơ. Đôi khi ta

phải đứng lên chống lại định kiến xã hội để đi theo con đường của mình. Nhiều khi ta phải đối mặt với cô

đơn, thất vọng. Dù làm gì, dù thế nào đi nữa, đừng bỏ cuộc. Hãy luyện tập mài giũa hàng ngày. Trái ngọt

được sau những chặng đường dài thực sự rất xứng đáng. Hãy tin tưởng.

Khi ta làm điều mà ta yêu thích, không phải ai cũng thể hiểu được. Nhưng mỗi người chúng ta được

sinh ra trên đời với một mục đích. Và nếu không làm được điều đó, sao ta thể yên lòng khi nhắm mắt xuôi

tay?

(Trích Khi đã may mắn tìm thấy ước mơ, Sách Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu? - Roise Nguyễn - NXB Hội

nhà văn, năm 2017, trang 217).

Câu 1. Thông hiểu

Vấn đề chính được đặt ra trong đoạn văn bản trên là gì?

Câu 2. Nhận biết

Theo tác giả vì sao Con đường theo đuổi ước mơ là con đường không bao giờ an toàn, cũng không phải là

con đường dễ dàng?

Câu 3. Thông hiểu

Hãy giải thích ngắn gọn quan niệm Trái ngọt được sau những chặng đường dài thực sự rất xứng đáng?

Câu 4. Thông hiểu

Thông điệp nào trong đoạn trích trên ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Câu 1 (2,0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) triển khai chủ đề:

Cuộc sống cần ước mơ.

Câu 2 (5,0 điểm) Vận dụng cao

Nhận xét về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là

nỗi nhớ tha thiết về một miền đất và một đoàn quân trong những ngày tháng gian khổ mà hào hùng của nhân

dân ta.”

Anh/chị hãy cảm nhận đoạn thơ sau, để làm sáng tỏ ý kiến trên:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Phần/ Câu

I

ĐỌC HIỂU

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Nội dung

1 Phương pháp: căn cứ vào nội dung văn bản; phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Nôi dung chính: Ước mơ - khởi đầu của mọi điều.

2 Phương pháp: căn cứ vào nội dung văn bản;

Cách giải:

Vì:

- Đôi khi ta phải chấp nhận đi đường vòng, làm việc mình không thích để nuôi dưỡng ước

mơ.

- Đôi khi phải đứng lên chống định kiến xã hổi để đi theo con đường của mình.

- Phải đối mặt với cô đơn, thất vọng.

3 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Trái ngọt được hiểu là những thành quả mà con người nỗ lực thực hiện.

- Chặng đường dài là hành trình, những khó khăn gian khổ mà con người phải đối mặt trong

quá trình đi đến với trái ngọt, với thành công.

=> Trải qua sự nỗ lực, kiên gan, bền bỉ, không ngại khó khăn gian khổ, không từ bỏ khi vấp

ngã con người tất yếu sẽ nhận được thành quả, thành công xứng đáng. Đó là món quà đẹp

đẽ nhất mà do chính chúng ta tạo nên.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

4 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Mỗi học sinh thể lựa chọn thông điệp ý nghĩa đối với bản thân và giải phù hợp.

Gợi ý:

- Thông điệp về ước mơ là điều cần với mỗi người.


II

- Thông điệp về sự nỗ lực, cố gắng không ngừng để đạt được ước mơ.

LÀM VĂN

1 Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận (bàn luận,

so sánh, tổng hợp,...)

Cách giải:

a. Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách

khác nhau.

b. Xác định vấn đề nghị luận: Người anh hùng trong thời đại ngày nay.

c. Triển khai vấn đề cần nghị luận: vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút ra

bài học nhận thức và hành động.

1. Giới thiệu vấn đề: Cuộc sống cần mơ ước

2. Phân tích, bàn luận

- Ước mơ là gì? Là những khao khát, mong muốn con người muốn đạt được trong cuộc

sống.

- Vì sao cuộc sống mỗi người cần mơ ước?

+ Ước mơ chính là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới

ước mơ.

+ Ước mơ chính là ngọn đuốc soi sáng trong tim mỗi chúng ta, giúp ta vượt qua khó khăn,

nó hướng chúng ta tới những điều tốt đẹp.

+ Ước mơ cũng chính là mong muốn được cống hiến sức lực của mình cho xã hội và khi

chúng ta đạt được ước mơ cũng là lúc chúng ta được thừa nhận năng lực của mình.

- Cần làm gì để thực hiện mơ ước của bản thân: Con đường dẫn tới ước mơ cũng vô cùng

khó khăn, không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, nhưng với những người kiên trì, bền

chí, thì ước mơ sẽ giúp cho bạn định hướng cho tương lai của mình một cách tốt đẹp nhất.

3. Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân

- Phê phán những kẻ sống thờ ơ, không mơ ước, không lí tưởng.

- Liên hệ bản thân.

2 Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chung).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,...) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

Cách giải:

Yêu cầu hình thức:

- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản.

- Bài viết phải bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm

tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu nội dung:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến

- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang

Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa -

đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình.

- Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ

thuật của nhà thơ, được in trong tập Mây đầu ô (1986).


- Ý kiến: “Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là nỗi nhớ tha thiết về một miền đất và một

đoàn quân trong những ngày tháng gian khổ mà hào hùng của nhân dân ta.”

Phân tích đoạn thơ

* Hai câu thơ đầu:

- Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ mang cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ. Cảm xúc ấy

là nỗi nhớ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

+ Đối tượng của nỗi nhớ ấy là con Sông Mã, con sông gắn liền với chặng đường hành quân

của người lính.

+ Đối tượng nhớ thứ hai là nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội, nhớ bao gương mặt một thời chinh

chiến. Nỗi nhớ ấy được bật lên thành tiếng gọi tha thiết “Sông Mã xa rồi Tây Tiên ơi” gợi

lên bao nỗi niềm lâng lâng khó tả.

+ Đối tượng thứ ba của nỗi nhớ đó là “nhớ về rừng núi”. Rừng núi là địa bàn hoạt động của

Tây Tiến với bao gian nguy, vất vả nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn. Nhưng nay, tất cả đã

“xa rồi”. “Xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế. Điệp từ nhớ được nhắc lại hai lần như khắc

sâu thêm nỗi lòng của nhà thơ.

+ Đặc biệt tình cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “Nhớ chơi vơi”, cùng với

cách hiệp vần “ơi” ở câu thơ trên làm nổi bật một nét nghĩa mới: “Chơi vơi” là trạng thái trơ

trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” thể hiểu là

một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự

thời gian, không gian. Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm

cho con người cảm giác đứng ngồi không yên.

* Hai câu thơ sau:

- Tác giả gợi đên những địa danh quen thuộc của miền Tây Bắc: Sài Khao, Mường Lát để

đưa người đọc bước vào những địa hạt heo hút, hoang dại theo bước chân quân hành của

người lính Tây Tiến.

- Ấn tượng đầu tiên hiện ra trong nỗi nhớ của người lính TT là sương núi mịt mù:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

- Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ vùi lấp cả đương đi, vùi lấp cả đoàn quân trong mờ

mịt. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp không tránh khỏi cảm

giac mệt mỏi rã rời. Con người trở nên hết sức bé nhỏ giữa biển sương dày đặc mênh mông

ấy...

- Người lính hiện lên trong sự bay bổng, lãng mạn: Giữa mịt mù sương lạnh, người lính Tây

Tiên vẫn thấy con đường hành quân thật: đẹp và nên thơ:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Vẫn là sương khói ấy thôi, nhưng cách nói “hoa về” khiến sương không còn lạnh giá nữa

mà gợi sự quần tụ, sum vầy thật tình tứ và ấm áp.

Bao trùm cả đoạn thơ là nỗi nhớ da diết về miền Tây đã gắn bó một thời máu thịt với

tác giả và những người đồng đội chí cốt.


NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Tổng kết


SỞ GĐ & ĐT THÁI BÌNH

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

THÁI BÌNH

ĐỀ THI LẦN 2

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Trong một khoảng thời gian hữu hạn, con người không thể thành công trong nhiều lĩnh vực hoặc

nghề nghiệp thích hợp. Con người sẽ buộc phải đưa ra những lựa chọn mang tính quyết định cho bản

thân. Vậy thì, lựa chọn và loại bỏ như thế nào? Ta nên thực hiện phép chia đơn giản, dễ thực hiện để

phân giải đạo lý phức tạp của cuộc đời. Có một câu chuyện ngụ ngôn kể về con chó săn cứ chạy ngược

chạy xuôi để đuổi theo hai chú thỏ, rốt cuộc là chẳng vồ được con nào. Thực chất con chó săn đã mắc sai

lầm, vì không nắm được một biểu thức toán học đơn giản: ½ - 50%, tức là khi đồng thời đuổi theo hai chú

thỏ, xác suất thành công của con chó săn chỉ thể là 50%. Con người cho dù 2 cái chân, nhưng chỉ

thể đi trên một con đường thì họ cũng chỉ một kiếp người với 6083 ngày hữu ích mà thôi. Xét từ góc

độ logic, sự thành bại của con người còn được quyết định bởi mục tiêu hành động, nếu dành sức cho một

mục tiêu, xác suất thành công là 100% hoặc chí ít cũng là gần 100%, nếu hai mực tiêu, xác suất chỉ

còn 50%.

Từ đó mà ta suy ra, mục tiêu theo đuổi càng nhiều, xác suất thành công càng nhỏ, con đường của

đời người càng trở nên mù mịt. Đương nhiên, cuộc đời càng trở nên bi thảm hơn, nếu không nói là hoàn

toàn trống rỗng và vô nghĩa, thậm chí là hư vô nếu không bất cứ mục tiêu nào.

chính xác!

Hãy bước ra khỏi cổng trường với sự khởi đầu bằng một phép tính cộng trừ nhân chia tỉnh táo và

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

(Cộng trừ nhân chia đời người, Quảng Dương, NXB Văn hóa Thông tin, 2015)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích trên. (0,5 điểm) (nhận biết)

Câu 2. Theo tác giả, tại sao con chó săn không vồ được bất kì con thỏ nào? (0,5 điểm) (thông hiểu)

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về câu văn: “Hãy bước ra khỏi cổng trường với sự khởi đầu bằng một

phép tính cộng trừ nhân chia tỉnh táo và chính xác”? (1,0 điểm) (thông hiểu)

Câu 4. Qua đoạn trích trên, tác giả muốn nhắn nhủ điều gì tới bạn đọc? Lời nhắn nhủ ấy nghĩa thiết

thực như thế nào đối với các bạn trẻ đặc biệt là những học sinh cuối cấp? (1,0 điểm) (thông hiểu)

II.Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Trang 1


Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan điểm được nêu trong đoạn

trích phần Đọc hiểu: “Mục tiêu theo đuổi càng nhiều, xác suất thành công càng nhỏ, con đường của đời

người càng trở nên mù mịt”. (vận dụng cao)

Câu 2 (5,0 điểm)

“…Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình mà đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây

trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã

nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống

dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh cánh hến

của nước Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu

bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy

dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng cái tên

Tây láo lếu, rồi cứ như thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.

Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã lần tôi nhìn Sông Đà

như nhìn một cố nhân. Chuyến ấy ở từng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót

anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, thấy trước mắt loang loáng

như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn thấy cái miếng sáng lóe lên một màu

nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn

chuồn bươm bướm Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui

như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi dừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm

như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi

chốc lại bắn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy…” (Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân – SGK

Ngữ Văn 12, Tập 1, NXBGD HN, 2016).

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng con Sông Đà, từ đó hãy nêu những nhận xét khái quát về

cái tôi của Nguyễn Tuân được thể hiện qua đoạn trích. (vận dụng cao)

Câu

Nội dung

Đọc hiểu Câu 1:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

*Phương pháp: Căn cứ vào đặc điểm của các phong cách ngôn ngữ đã học: sinh hoạt, nghệ

thuật, báo chí, chính luận, hành chính – công vụ.

*Cách giải:

Phong cách ngôn ngữ: chính luận.

Câu 2:

*Phương pháp: Đọc, tìm ý

*Cách giải:

Theo tác giả, con chó săn không vồ được bất kì con thỏ nào vì không nắm được một biểu

thức toán học đơn giản: 1/2 - 50%, tức là khi đồng thời đuổi theo hai chú thỏ, xác suất thành

Trang 2


công của con chó săn chỉ thể là 50%.

Câu 3:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp

*Cách giải:

“Hãy bước ra khỏi cổng trường với sự khởi đầu bằng một phép tính cộng trừ nhân chia tỉnh

táo và chính xác”: Cần phải sự tính toán cẩn thận trong việc xác định những mục tiêu để

nỗ lực, phấn đấu.

Câu 4:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp

*Cách giải:

Học sinh thể trình bày ý kiến, quan điểm cá nhân của mình. Gợi ý:

+ Tác giả muốn nhắn nhủ tới bạn đọc: Hãy xác định mục tiêu rõ ràng để cố gắng

+ Lời nhắn nhủ ấy tác dụng: giúp các bạn học sinh cuối cấp xác định cho mình mục tiêu

tiếp theo của mình sau khi ra trường là gì; từ đó phấn đấu để xác định mục tiêu đó – lời

khuyên mang tính thực tế cao.

Làm văn

1 *Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận (bàn luận,

so sánh, tổng hợp,…)

*Cách giải:

Yêu cầu về hình thức:

- Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ

- Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…

- Hiểu đúng yêu cầu của đề, kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Học viên thể làm bài theo

nhiều cách khác nhau: thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải lí lẽ và căn cứ

xác đáng; thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Yêu cầu về nội dung:

Nêu vấn đề

Giải thích vấn đề

- Mục tiêu: đích để đạt tới

- Xác suất: số đo phần chắc của một biến cố ngẫu nhiên

- Thành công: đạt được kết quả, mục đích như dự định

=> “Mục tiêu theo đuổi càng nhiều, xác suất thành công càng nhỏ, con đường của đời người

càng trở nên mù mịt” nghĩa là trong cuộc sống, khi bạn đề ra quá nhiều đích đến thì khả

năng bạn đạt được những đích đó càng nhỏ, mọi thứ trong cuộc sống càng xa so với tầm với

của mình.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


Phân tích, bàn luận vấn đề

- Tại sao nói “Mục tiêu theo đuổi càng nhiều, xác suất thành công càng nhỏ, con đường của

đời người càng trở nên mù mịt”?

+ Mỗi một cá thể những khả năng nhất định, mỗi con người không phải là toàn năng

+ Mỗi mục tiêu để đạt được cần đều trải qua những khó khăn, để thành công là cả một quá

trình nỗ lực không ngừng

+ Khi quá nhiều mục tiêu đồng nghĩ với nó ta phải chia mình ra thành nhiều người với các

chức năng khác nhau để thực hiện được các mục tiêu đó, như vậy khả năng tập trung vào vấn

đề chính là rất khó

- Làm sao để thành công với mục tiêu đề ra?

+ Tự nhận định về khả năng của mình, lắng nghe xem bản thân thật sự muốn gì và cần gì

+ Xác định mục tiêu rõ ràng, trọng tâm

+ Lên kế hoạch và nỗ lực phấn đấu để biến biến mục tiêu thành hiện thực

- Phê phán những người quá tham lam hoặc những người lông bông với nhiều dự định

Liên hệ bản thân

2 *Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

Yêu cầu hình thức:

- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản.

- Bài viết phải bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm

tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

Yêu cầu nội dung:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Nguyễn Tuân là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, là một nhà văn cá tính

độc đáo, thể coi ông là một định nghĩa về người nghệ sĩ.

- Nét nổi bật trong phong cách của Nguyễn Tuân là ở chỗ, Nguyễn Tuân luôn nhìn sự vật ở

phương diện văn hóa và mĩ thuật, nhìn con người ở phẩm chất nghệ sĩ và tài hoa. Sáng tác

của Nguyễn Tuân thể hiện hài hòa màu sắc cổ điển và hiện đại. Đặc biệt, ông thường cảm

hứng mãnh liệt với cái cá biệt, phi thường, dữ dội và tuyệt mĩ.

- Người lái đò sông Đà là bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân.

Sông Đà nói chung và Người lái đò Sông Đà nói riêng còn tiêu biểu cho phong cách nghệ

thuật độc đáo của Nguyễn Tuân: uyên bác, tài hoa, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác

đáng nhất, khả năng làm lay động người đọc nhiều nhất.

Phân tích hình tượng của con Sông Đà – con sông trữ tình

a) Góc nhìn từ trên cao (máy bay), Sông Đà mang vẻ đẹp của một mĩ nhân

- Dòng sông mang vẻ đẹp của một áng tóc trữ tình mềm mại, tha thướt và duyên dáng.

- Vẻ đẹp của dòng sông hài hòa với núi rừng Tây Bắc, được núi rừng điểm tô thêm cho nhan

sắc mĩ miều.

* Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian khác nhau, tác giả đã phát hiện ra những sắc màu

tươi đẹp và đa dạng của dòng sông. Màu nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa vẻ đẹp riêng

trong cách so sánh rất cụ thể:

- Mùa xuân, nước Sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, lấp lánh

- Mùa thu, nước Sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ

cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”

- Đặc biệt, nhà văn khẳng định chưa bao giờ con sông màu đen như thực dân Pháp đã “đè

ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào”, và gọi bằng cái tên lếu láo Sông Đen.

* Góc nhìn từ bờ bãi sông Đà, dòng sông mang vẻ đẹp của một “cố nhân”

- Vẻ đẹp của nước Sông Đà gợi nhớ đến một trò chơi của con trẻ “trước mắt thấy loang

loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”, đẹp một cách hồn nhiên

và trong sáng

- Vẻ đẹp của nắng sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới Đường thi “tôi nhìn cái miếng sáng lóe

lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”” (Xuôi thuyền

về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói).

- Vẻ đẹp của bờ bãi sông Đà lại gợi nhớ đến thế giới thần tiên trong khu vườn cổ tích “bờ

sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”.

-> nhà văn đã cảm nhận được cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân thuộc khi gặp lại sau một thời

gian “ở rừng đi núi đã hơi lâu”.

Nhận xét về cái tôi của Nguyễn Tuân trong đoạn trích

+Cái tôi tài hoa nghệ sĩ – suốt đời rong ruổi đi tìm cái đẹp

+Cái tôi luôn cảm hứng mãnh liệt với những cái tuyệt mĩ

+Cái tôi giàu suy tư trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước

Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


TRƯỜNG THPT CHUYÊN

BẮC NINH

ĐỀ THI LẦN 3

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I.ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Sức mạnh của lòng đam mê không bao giờ bị đánh giá thấp. Sức mạnh đó dẫn dắt bạn trong suốt

cuộc đời, đo lường giá trị con người bạn và ý thức của bạn về sự thành đạt. Sức mạnh đó giúp bạn kiên

định trước ánh mắt xét đoán của người khác. Nhiều người từng những quyết định “không giống ai” và

chọn những con đường hẹp gồ ghề dài hun hút, nhưng rồi họ nhận ra mình đang đứng trên đỉnh vinh

quang của cuộc sống mà trước đây không ai nghĩ rằng họ làm được. Bạn thể đưa ra những quyết định

tối ưu và lý trí nhất, nhưng tổng của các quyết định đó không phải lúc nào cũng cho ra một kết quả hợp lý

nhất. Cái tạo ra sự khác biệt cuối cùng chính là sức mạnh của lòng đam mê.

Vào những năm cuối của thập niên 90 của thế kỷ trước tại Mỹ sự bùng nổ số lượng sinh viên

theo học các trường luật. Xu hướng này sau đó chuyển sang Học viện kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ

(AICPA – American Institue of Certified Public Accountants), sau đó là du học tại chỗ thay vì phải ra

nước ngoài. Các trường đại học khoa học, nha hay y dược lúc đó vẫn là các chủ đề được nói đến nhiều

nhất, trong khi các trường nghệ thuật thì ngược lại. Tôi không ý định đánh giá thấp nghề nghiệp nào

cả, mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh cảm giác trống rỗng mà cuối cùng bạn sẽ phải đối diện, nếu bạn chọn

nghề nghiệp tương lai không dựa vào đam mê mà dựa vào danh tiếng bề ngoài hay sự ổn định của khoản

thu nhập về sự hứa hẹn về những phúc lợi hấp dẫn.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Cuộc đời bạn phải được dẫn dắt bởi tương lai, ước mơ và niềm đam mê của bạn. Từ “đam mê”

trong tiếng Anh – passion – bắt nguồn từ một từ Latin cổ “passio”, nghĩa là “đau đớn”. Quả là không

thể chính xác hơn! Đam mê là một tên gọi khác của nỗi đau. Khi bạn thỏa hiệp với kết quả ngọt ngào

đang quyến rũ bạn ngay vào lúc này thay vì theo đuổi ước mơ, nỗi đau sẽ xuất hiện.

(Rando Kim, Tuổi trẻ, khát vọng và nỗi đau, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2016)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (nhận biết)

Câu 2: Theo tác giả, sức mạnh của lòng đam mê ý nghĩa như thế nào? (thông hiểu)

Câu 3: Theo anh/chị, tại sao: Khi bạn thỏa hiệp với kết quả ngọt ngào đang quyến rũ bạn ngay vào lúc

này thay vì theo đuổi ước mơ, nỗi đau sẽ xuất hiện? (thông hiểu)

Câu 4: Bài học ý nghĩa mà anh/chị rút ra từ văn bản trên? (vận dụng)

Trang 1


II.LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm):

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy

nghĩ về “sức mạnh của lòng đam mê.” (vận dụng cao)

Câu 2 (5.0 điểm):

Cảm nhận của anh/chị về sự thức tỉnh của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô

Hoài, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016).

Từ đó liên hệ với sự thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo vào buổi sáng sau đêm gặp Thị Nở (Chí Phèo –

Nam Cao, Ngữ văn 11, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016) để nhận xét tình cảm nhân đạo của hai nhà

văn. (vận dụng cao)

------------------------Hết----------------------

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Câu Nội dung

Đọc hiểu Câu 1:

*Phương pháp: Căn cứ vào các phương thức biểu đạt đã học: tự sự, miêu tả, biểu cảm,

thuyết minh, nghị luận, hành chính – công vụ

*Cách giải:

Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2:

*Phương pháp: Đọc, tìm ý

*Cách giải:

Theo tác giả, sức mạnh đam mê ý nghĩa:

+ Sức mạnh đó dẫn dắt bạn trong suốt cuộc đời, đo lường giá trị con người bạn và ý thức của

bạn về sự thành đạt.

+ Sức mạnh đó giúp bạn kiên định trước ánh mắt xét đoán của người khác.

+ Tạo ra sự khác biệt giữa bạn và những người xung quanh.

Câu 3:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp

*Cách giải:

“Khi bạn thỏa hiệp với kết quả ngọt ngào đang quyến rũ bạn ngay vào lúc này thay vì theo

đuổi ước mơ, nỗi đau sẽ xuất hiện” vì:

+ “Kết quả ngọt ngào kia” hoàn toàn thể thay đổi và không ai thể chắc chắn nó sẽ tồn

tại mãi mãi

+ Không theo đuổi ước mơ là khước từ sống thật với chính mình, lúc bạn sẽ phải hối hận

Câu 4:

Trang 2

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp

*Cách giải:

Học sinh rút ra bài học cho chính mình. Gợi ý: Bài học về sự nỗ lực theo đuổi ước mơ, khát

vọng của chính mình.

Làm văn

1 *Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận (bàn luận,

so sánh, tổng hợp,…)

*Cách giải:

Yêu cầu về hình thức:

- Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ

- Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…

- Hiểu đúng yêu cầu của đề, kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Học viên thể làm bài theo

nhiều cách khác nhau: thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải lí lẽ và căn cứ

xác đáng; thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Yêu cầu về nội dung:

* Nêu vấn đề

* Giải thích vấn đề

- Đam mê: sự ham thích đến tột cùng

- Sức mạnh: khả năng tác động mạnh mẽ đến những người khác, đến sự vật, gây tác dụng ở

mức cao

=> Sức mạnh đam mê: khả năng tác động mạnh mẽ của lòng đam mê đến cuộc sống của cá

nhân và thế giới xung quanh.

* Phân tích, bàn luận vấn đề

- Sức mạnh của đam mê:

+ Dẫn dắt bạn hành động, đi đến thành công

+ Thúc đẩy bạn vươn lên trong cuộc sống

+ Giúp bạn sống thật với chính mình

- Cần phân biệt đam mê với sự theo đuổi một cách mù quáng

- Luôn giữ lửa đam mê trong mình

- Phê phán những người không dám sống với đam mê của chính mình

* Liên hệ bản thân

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

2 Câu 2:

*Phương pháp:

Trang 3


- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam. Ông vốn hiểu biết phong phú, sâu

sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn

luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ

vựng giàu – nhiều khi rất bình dân và thông tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba

nên sức lôi cuốn, lay động người đọc.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc, được tặng giải Nhất –

Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955, sau hơn nửa thế kỉ, đến nay vẫn giữ gần

như nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc.

* Cảm nhận về sự thức tỉnh của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân

* Nguyên nhân thức dậy sức sống tiềm tàng:

- Khung cảnh ngày xuân:

+ Màu sắc rực rỡ: cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy phơi trên mỏm đá xòe rộng ra như

những cánh bướm sặc sỡ.

+ Âm thanh náo nhiệt, tưng bừng: tiếng trẻ con chờ tết chơi quay cười ầm trên sân chơi trước

nhà …

- Tiếng sáo: sự dịch chuyển, vận động:

+ Từ xa đến gần (Từ ngoài vào trong, từ khách thể nhập vào chủ thể):

Lấp ló ngoài đầu núi vọng lại.

Văng vẳng ở đầu làng.

Lửng lơ bay ngoài đường.

Rập rờn trong đầu Mị.

+ Từ hiện tại đến quá khứ (Từ cõi thực đến cõi mộng).

+ Tiếng sáo rủ bạn đi chơi đầy háo hức -> tiếng sáo gọi bạn yêu trong tuyệt vọng.

=> Dìu hồn Mị bềnh bồng sống lại với những khát khao yêu thương hạnh phúc của ngày

xưa,

dẫn Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ.

- Hơi rượu:

+ Uống cả hũ rượu

+ Uống ực từng bát

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


-> Say lịm mặt ngồi đấy -> Lãng quên hiện tại -> Sống lại quá khứ.

* Diễn biến tâm lí – hành trình vượt thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại để tìm lại chính mình:

(+) Tương tranh, mâu thuẫn giữa sức sống tiềm tàng và thực tại hiện hữu:

- Sức sống tiềm tàng:

+ Mị thấy “phơi phới” trở lại, “vui sướng”

+ Thức dậy ý thức và khát vọng: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”.

- Thực tại hiện hữu: Mị muốn đi chơi nhưng lại không đi chơi, Mị đi vào buồng.

(+) Trong hơi rượu -> sức sống tiềm tàng lại trỗi dậy

- Mị như ở trạng thái mộng du, vượt thoát hoàn cảnh để tìm lại chính mình.

+ Lấy ống mỡ sắn một miếng để thắp đèn lên cho sáng. -> thắp sáng căn buồng cũng là thắp

sáng khát vọng giải thoát cuộc đời mình.

+ Chuẩn bị đi chơi: quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa, rút thêm cái áo.

(+) Hành động vượt thoát khỏi hoàn cảnh bị chặn đứng:

- Mị bị A Sử trói vào cột, không cho đi chơi.

-> A Sử chỉ trói được thân xác Mị chứ không trói được ý muốn đi chơi, không trói được khát

vọng, sức sống của Mị.

-> Mị vẫn thả hồn theo tiếng sáo đến với những cuộc chơi.

(+) Sáng hôm sau Mị tỉnh lại, quay về thực tại, nhận ra tình thế bi đát của mình:

- Những dây trói xiết lại, đau dứt từng mảnh thịt.

-> Thấy mình không bằng con ngựa ở bên kia vách.

=> Giá trị nhân đạo: Tin tưởng vào bản chất người luôn tiềm tàng trong mỗi con người: khát

vọng sống mãnh liệt.

* Liên hệ với sự thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo vào buổi sáng sau đêm gặp Thị Nở

*Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Nam Cao là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.

- Chí Phèo là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông.

*Sự thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở:

- Chí tỉnh rượu, nhận thức về cuộc sống xung quanh

- Chí nhận thức được tình cảnh của bản thân mình

- Chí thức tỉnh tính người, khao khát yêu thương, khao khát được làm người lương thiện

*So sánh:

- Giống nhau:

+Hai nhân vật bi kịch

+Sự thức tỉnh của 2 nhân vật đều là sự thức tỉnh sau một quá trình sống trong bi kịch

- Khác nhau:

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ Vợ chồng A Phủ:

++ Sự thức tỉnh của Mị là sự thức tỉnh của sức sống tiềm tàng, khao khát được sống một

cuộc đời tự do

++ Sau quá trình thức tỉnh này nhân vật đã tìm được lối thoát cho mình

+ Chí Phèo:

++ Sự thức tỉnh của Chí là sự thức tỉnh tính người, thức tỉnh sau bi kịch bị tha hóa về nhân

hình và nhân tính

++ Sau quá trình thức tỉnh nhân vật lại bước tiếp vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người =>

nhân vật chưa tìm được lối thoát cho mình.

- Lí giải:

+ Vợ chồng A Phủ được Tô Hoài viết sau Cách mạng tháng Tám, chịu ảnh hưởng của nhân

sinh quan tích cực sau Cách mạng

+ Chí Phèo ra đời trước Cách mạng tháng Tám, nhân vật được xây dựng bằng bút pháp điển

hình hóa, tuân thủ chặt chẽ nhân sinh quan của chủ nghĩa hiện thực.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


SỞ GĐ & ĐT BẠC LIÊU

CỤM CHUYÊN MÔN 01

ĐỀ THI LẦN 2

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) (ID: 307140)

Đọc đoạn trích dưới đây:

(…) Nhà triết học người Anh, James Allen (1864 – 1912) đã dùng nguyên tắc “Nguyên nhân và kết quả”

đề cập đến sức mạnh tuyệt vời, thể dẫn con người và xã hội theo chiều hướng tốt đẹp, sức mạnh đó

nằm ở “trái tim trong sáng”.

Ngay cả trong kinh doanh hay chính trị, vẫn trường hợp không thành công dù người đó trong tay

tiền bạc, địa vị, năng lực, dù đã vắt óc, lên kế hoạch, tạo chiến lược chiến thuật.

Nhưng ngược lại, người trái tim cực kì trong sáng, suy nghĩ mọi việc một cách đơn giản đôi khi lại

được thành công một cách nhanh chóng bất ngờ. Bởi trong một trái tim trong sáng, trong suy nghĩ thành

tâm chứa đựng sức mạnh tuyệt vời. James Allen cho rằng những người thành công lớn nhờ họ xuất phát

từ tâm hồn, trái tim chân thành, trong sáng.

Tôi cũng tin chắc rằng những người được gọi là lãnh đạo, trước hết phải trang bị cho mình trái tim trong

sáng như Allen nói. Lịch sử đã chứng minh tiền tài, địa vị, quyền lực, đối sách không thắng nổi một trái

tim trong ngần không gợn đục, không thắng nổi một ý chí thành tâm thành ý. Sự nghiệp vĩ đại thực thụ là

sự thành công nhờ vào sự hiệp lực của nhiều người bằng tâm hồn cao quý, thanh khiết.

(Inamori Kazuo – Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế, NXB Trẻ, 2017, tr.84 – 85)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Nhận biết

Chỉ ra sức mạnh của “trái tim trong sáng” được nêu trong đoạn trích.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 1


Câu 2. Nhận biết

Theo tác giả, điều làm nên “sự nghiệp vĩ đại thực sự” là gì?

Câu 3. Thông hiểu

Việc tác giả dẫn ra nguyên tắc của nhà triết học James Allen tác dụng gì?

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị đồng ý với quan điểm cho rằng “những người thành công lớn nhờ họ xuất phát từ tâm hồn,

trái tim chân thành, trong sáng” không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm) (ID: 307146) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về điều bản

thân nên làm để thể thành công trong cuộc sống.

Câu 2: (5.0 điểm) (ID: 307147) Vận dụng cao

Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả sông Đà bằng nhiều giác quan

khác nhau. Có lúc, sông Đà hiện lên qua ấn tượng của thính giác: “Tiếng thác nước nghe như là oán

trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên

như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữ rừng vầu tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa,

rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy

sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Nhưng cũng khi, sông Đà được miêu tả bằng ấn tượng

của thị giác: “Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc ngồi tàu bay trên chiều cao

mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá

lờ lờ bóng mây dưới chân mình. Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân

tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo

đốt nương xuân.”

(Nguyễn Tuân – Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2015, tr.187 – 188 và tr.190 – 191)

Phân tích hình tượng sông Đà qua những đoạn miêu tả trên, từ đó làm nổi bật tính chất độc đáo của dòng

sông dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

-------------HẾT---------------

Trang 2


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu Nội dung

Đọc hiểu 1.

*Phương pháp: căn cứ nội dung văn bản

*Cách giải:

- Sức mạnh của “trái tim trong sáng: thể dẫn dắt con người và xã hội theo chiều hướng tốt

đẹp.

2.

*Phương pháp: căn cứ nội dung văn bản

*Cách giải:

Điều làm nên “sự nghiệp vĩ đại thực thụ” là: sự thành công nhờ vào sự hiệp lực của nhiều

người bằng tâm hồn cao quý, thanh khiết.

3.

*Phương pháp: phân tích, tổng hợp

*Cách giải:

Tác dụng:

- Giúp người đọc dễ dàng hình dung được vấn đề đang được đề cập đến.

- Tạo nên dẫn chứng chân thực, tăng độ tin cậy cho vấn đề .

4.

*Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

*Cách giải:

Học sinh thể lựa chọn đồng ý, không đồng ý hoặc đồng ý một phần miễn sao sự lí giải

hợp lí.

Gợi ý: Đồng tình.

- Khi mang trong mình trái tim chân thành, trong sáng, thuần khiết thì sẽ đem đến những

điều tốt đẹp nhất đến những người xung quanh.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

- Là bởi dốc hết trái tim sẽ được đền đáp bởi trái tim chân thành.

- Người trái tim chân thành, trong sáng,… sẽ dễ thành công hơn những kẻ gian trá, giảo

hoạt.

- ….

Làm văn

1 *Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

*Cách giải:

a.Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh thể trình bày đoạn văn theo nhiều

cách khác nhau.

b.Xác định vấn đề nghị luận: Người anh hùng trong thời đại ngày nay.

Trang 3


c.Triển khai vấn đề cần nghị luận: vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút

ra bài học nhận thức và hành động.

-Mở đoạn: giới thiệu vấn đề cần nghị luận.

-Thân đoạn: thể triển khai một số nội dung như:

1. Giải thích

- Thành công là gì? Thành công chính là kết quả, thành quả ngọt ngào mà một người gặt hái

được sau những ngày tháng nỗ lực, cống hiến hết mình cho một công việc, mục đích nào đó.

Nói một cách khác thành công chính là việc ta thực hiện được mục đích ban đầu mà ta đã đặt

trong trong công việc, học tập, hay một lĩnh vực cụ thể nào đó.

2. Bàn luận vấn đề

Muốn thành công con người cần phải:

- Đặt ra mục tiêu, phương hướng hành động đúng đắn

- Trong bất kì công việc nào cũng không ngừng nỗ lực, cố gắng

- Không ngại khó khăn, gian khổ, kiên định với mục tiêu đã đề ra….

- Trong hành trình đó mỗi chúng ta cũng cần một trái tim chân thành, tinh khiết, hành

động không trái lương tâm, đạo đức xã hội thì mới thể đạt được thành công. Cùng nâng

đỡ những người khác vươn đến thành công.

3. Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân

- Phê phán những kẻ lười biếng, không chí tiến thủ hoặc những kẻ không từ thủ đoạn nào

để đạt tới thành công.

- Liên hệ bản thân.

2 *Phương pháp:

_Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

_Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b.Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết

hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng

như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo nhiều

cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.Giới thiệu tác

giả, tác phẩm

- Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, uyên bác và là con người của nghệ thuật. Ông là một

định nghĩa về người nghệ sĩ. Cuộc đời cầm bút của ông là cuộc hành trình không mệt mỏi

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


khám phá và diễn tả cái đẹp của thiên nhiên sông núi quê hương, vẻ đẹp con người.

- Người lái đò sông Đà là thiên tùy bút rút trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân. Sông

Đà nói chung và tùy bút Người lái đò sông Đà nói riêng cho bạn đọc thấy một nhà văn

Nguyễn Tuân mới mẻ, hòa nhập vào cuộc sống lớn của đất nước và nhân dân, khác hẳn một

Nguyễn Tuân trước Cách mạng.

• Cảm nhận hình tượng sông Đà

a) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ nhất- Một Sông Đà hung bạo

Sự hung bạo của Sông Đà được tác giả tái hiện lần lượt ở cảnh đá bờ sông dựng vách thành,

ở ghềnh đá, ở những cái hút nước; nhưng sức mạnh khủng khiếp nhất của sông Đà dồn tụ lại

ở trận địa thác đá. Bằng sự cảm nhận của giác quan thính giác -> nhận ra dấu hiệu đầu tiên

của trận địa thác đá là âm thanh tiếng nước thác:

- Âm thanh phong phú: lúc thì nghe như là oán trách, lúc như van xin, khi thì khiêu khích,

giọng gằn mà chế nhạo, đặc biệt lúc rống lên

- Âm thanh rống lên gầm thét là sự cộng hưởng của:

+ tiếng một ngàn con trâu mộng, lại đang trong giây phút đối mặt với cái chết, lồng lộn tìm

đường thoát thân giữa rừng lửa bao vây

+ tiếng nổ lửa, phá tuông của cả rừng vầu, rừng tre nứa.

+ Thêm nữa, sự hợp sức của số nhiều (một nghìn con trâu mộng, cả rừng vầu rừng tre nứa)

khiến cho âm thanh tiếng nước thác đang “réo to mãi lên” thật là kinh sợ

+ Những vế câu dài liên tiếp đã góp phần gợi cảm giác dồn đuổi lấn lướt của lửa cháy bùng

bùng

- Hình ảnh “bọt trắng xóa cả một chân trời đá”

=> Dòng sông biến thành một sinh thể dữ dằn, gào thét trong những âm thanh cuồng nộ, ghê

sợ để trấn áp con người.

b) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ hai- Một Sông Đà trữ tình

Tác giả đã phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú cùng với những liên tưởng bất ngờ mà

thú vị để tái hiện hình ảnh Sông Đà:

- Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ

“con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây

trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương

xuân”.

+ Vừa mới đây thôi sông Đà còn là nơi hội tụ của những dữ dằn, hung bạo; vậy mà trong

chốc lát sóng nước đã xèo xèo tan trong trí nhớ để hiện hình trước mắt người đọc trong một

dáng vẻ hoàn toàn khác lạ.

+ Mái tóc tuôn tài tuôn dài tưởng chừng như bất tận, nó trập trùng ẩn hiện giữa mây trời Tây

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Bắc, nó bồng bềnh uốn lượn quanh co thướt tha duyên dáng… Mái tóc ấy như đang ôm lấy

dáng hình thanh tân trẻ trung gợi cảm đầy sức sống của người thiếu nữ Tây Bắc.

+ Màu trắng tinh khiết của hoa ban, màu đỏ rực rỡ của hoa gạo điểm vào suối tóc ấy khiến

nó thêm phần kiều diễm làm say lòng người. Tác giả dùng lối đảo trật tự câu “bung nở hoa

ban hoa gạo tháng hai” để nhấn mạnh thêm sức sống tràn căng của thiên nhiên Tây Bắc vào

thời điểm giữa mùa xuân, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của suối tóc Sông Đà

+ Hình ảnh “cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” đã tạo nên cái sương khói hư ảo

như ẩn giấu đi gương mặt đẹp bí ẩn của người thiếu nữ càng làm tăng thêm sức hấp dẫn…

=> sông Đà mang gương mặt, dáng vóc và nhan sắc của một mĩ nhân, sức gợi cảm, cuốn

hút đến vô cùng.

• Đánh giá, tổng hợp

Giá trị nội dung

- Nhân vật Sông Đà dưới ngòi bút sáng tạo của nhà văn lấp lánh hai nét tính cách: hung bạo

và trữ tình. Lúc hung bạo, con sông “mang diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một”

của con người. Lúc trữ tình, dòng chảy ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ, là một công trình

nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, trở một “mĩ nhân” đầy gợi cảm và hấp dẫn.

-> Qua đây tác giả cũng kín đáo thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết và niềm say mê, tự hào

với thiên nhiên của quê hương xứ sở mình

Đặc sắc nghệ thuật

- Hai trích đoạn đã cho thấy công phu lao động nghệ thuật nghiêm túc, khó nhọc của nhà

văn. Nguyễn Tuân đã phải dành nhiều tâm huyết và công sức để làm hiện lên những vẻ đẹp

và sắc thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc

- Nhà văn đã huy động tối đa các giác quan thị giác, xúc giác, thính giác và vận dụng tri thức

của nhiều lĩnh vực để tái hiện hình ảnh sông Đà gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc

- Nhà văn cũng đã thể hiện tài năng điêu luyện của một người nghệ sĩ ngôn từ trong việc tái

tạo những kì công của tạo hóa

III. Kết luận

- Khẳng định giá trị tác phẩm

- Khẳng định vị trí tác giả trên văn đàn

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRƯỜNG PTTH CHUYÊN

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.Đọc hiểu (3 điểm)

Anh/chị hãy đọc văn bản sau đây rồi trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

“Có một chiếc đồng hồ điện ở Versailles, Paris, được làm từ 1746 mà đến nay vẫn tiện dụng và hợp

thời, đúng nửa đêm 31/12/1999, nó đã gióng chuông và chuyển con số 1 (đeo đuổi trên hai trăm năm)

thành con số 2, kèm theo ba số không. Và, “theo tính toán hiện nay, chiếc đồng hồ này còn tiếp tục báo

năm báo tháng báo giờ… nghiêm chỉnh thêm năm trăm năm nữa”.

Sở dĩ người xưa làm được việc đó, vì họ luôn luôn hướng về một cái gì trường tồn. Duy cái điều

người liên hệ thêm “còn ngày nay, người ta chỉ chăm chăm xây dựng một tòa nhà dùng độ 20 năm rồi lại

phá ra làm cái mới” thì cần dừng lại kỹ hơn một chút.

Nếu người ta nói ở đây là chung cho con người thế kỷ XX thì nói thế là đủ. Một đặc điểm của kiểu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

tư duy hiện đại là nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu. Nhưng cái gì

thể trường tồn được thì họ vẫn làm theo kiểu trường tồn. Chính việc sẵn sàng chấp nhận mọi thay đổi

chứng tỏ sự tính xa của họ.

Riêng ở ta, phải nói thêm: trong tình trạng kém phát triển của khoa học và công nghệ một số người

cũng thích nói tới hiện đại. Nhưng trong phần lớn trường hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó

hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi.

Không phải những người tuyên bố “hãy làm đi, đừng nghĩ ngợi gì nhiều, bác bỏ sự nghĩ hoàn toàn.

Có điều ở đây, bộ máy suy nghĩ bị đặt trong tình trạng tự phát, người trong cuộc như tự cho phép mình

“được đến đâu hay đến đấy” “không cần xem xét và đối chiếu với mục tiêu lâu dài rồi tính toán cho mệt

óc, chỉ cần những giải pháp tạm thời, cốt đạt được những kết quả rõ rệt ai cũng trông thấy là đủ”. Bấy

Trang 1


nhiêu yếu tố gộp lại làm nên sự hấp dẫn đặc biệt của lối suy nghĩ thiển cận, vụ lợi và người ta cứ tự nhiên

mà sa vào đó lúc nào không biết”

(Vương Trí Nhàn – Nhân nào quả ấy, NXB Phụ nữ, 2005, tr.93 – 94)

Câu 1. Nhận biết

Theo tác giả bài viết trên, nguyên nhân nào khiến người xưa tạo nên được những sản phẩm giống như cái

chiếc đồng hồ ở điện Versailles?

Câu 2. Nhận biết

Đặc điểm của “kiểu tư duy hiện đại” của “con người thế kỉ XX” mà Vương Trí Nhàn chỉ ra là gì?

Câu 3. Thông hiểu

Tại sao tác giả không tán đồng với một số người “ở ta” khi họ “thích nói tới hiện đại”?

Câu 4. Thông hiểu

Theo anh (chị), thói thiển cận khác gì với đầu óc thực tế?

II. Làm văn

Câu 1 (2 điểm). Vận dụng cao

Hãy viết một đoạn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của anh/chị về bệnh “thiển cận và vụ lợi” trong học

tập của học sinh hiện nay.

Câu 2 (5 điểm). Vận dụng cao

Phân tích và chỉ ra sự khác biệt trong những câu thơ sau đây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

(Quang Dũng – Tây Tiến – SGK Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

“Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

(Tố Hữu – Việt Bắc – SGK Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

- Người xưa luôn hướng về sự trường tồn

2.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

“Kiểu tư duy hiện đại” của “con người thế kỉ XX” là: “nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì

biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu”.

3.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Tác giả không tán đồng với một số người “ở ta” khi họ “nói tới hiện đại” vì “phần lớn trường

hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi”.

4.

Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Sự khác biệt:

- Thói thiển cận là suy nghĩ và hành động nông cạn, chỉ nhìn thấy cái gần, cái trước mắt,

không biết nhìn xa, trông rộng.

- Đầu óc thực tế là kiểu tư duy coi trọng những gì thiết thực, hữu ích.

- Như vậy, hai cách nghĩ và làm trên quan điểm gần nhau những khác biệt là khó rõ,

nên biết thực tế những không nên sa vào thiển cận.

Làm văn

1 Phương pháp:phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giải thích

- Thói thiển cận là suy nghĩ và hành động nông cạn, chỉ nhìn thấy cái gần, cái trước mắt,

không biết nhìn xa, trông rộng.

- Vụ lợi: tham lam, chỉ biết vơ lợi ích cho mình.

=> Lối sống tiêu cực ngày càng phổ biến trong học sinh

2. Bàn luận

- Thiển cận và vụ lợi trong học tập của HS hiện nay là thực tế với nhiều biểu hiện: chỉ học

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


những môn để thi, tìm mọi cách để điểm cao, chỉ học những gì lợi cho mục đích ngắn

hạn của mình.

- Hậu quả: học lệch, tính cách ích kỉ, cách học ấy sẽ dẫn đến lệch lạc trong lối sống ở tương

lai.

3. Mở rộng và liên hệ bản thân

- Cần phải thay đổi căn bệnh này từ giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội.

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp:phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Yêu cầu chung:

- Thấy được điểm chung và nét riêng trong mỗi nhà thơ.

- Từ đó chỉ ra tài năng và tư duy của họ, phần nào thấy được đóng góp của mỗi nhà văn cho

văn học giai đoạn 1945 – 1975.

Yêu cầu cụ thể:

1. Quang Dũng và đoạn thơ

1.1 Khái quát

- Về tác giả: nhà thơ tài hoa, lãng tử, từng là thành viên của binh đoàn Tây Tiến

- Về tác phẩm: sáng tác khi nhà thơ đã rời xa đơn vị, tên là “Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành

“Tây Tiến”

- Đoạn thơ nằm ở khổ thơ thứ hai, khổ thơ tập trung thể hiện chất nghệ sĩ trong những người

chiến sĩ.

1.2 Phân tích đoạn thơ

- Trước hết là khung cảnh thiên nhiên:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

+ Không gian được bao trùm bởi một màn sương giăng mắc trở nên mờ ảo, như hư, như

thực. Sương chiều bảng lảng đầy thi vị, chứ không còn là “sương lấp đoàn quân mỏi” khi

màn đêm buông xuống

+ Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử, chỉ màu lau trắng trải dài tít tắp,

phất phơ theo chiều gió thổi, xôn xao ẩn chứa những nỗi niềm của con người… Thiên nhiên

như linh hồn, “hồn lau” hài hòa với “hồn thơ” của những người lính đa cảm. Cũng thể

hiểu “hồn lau” là một ẩn dụ đặc sắc gợi về vẻ đẹp giản dị, gần gũi, hồn hậu của những con

người miền Tây- những người lao động trên sông nước mênh mông.

- Trên nền thiên nhiên tĩnh lặng và thơ mộng đó nổi bật hình ảnh con người:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ “Dáng người trên độc mộc” phải chăng đó là dáng hình mềm mại, uyển chuyển của thiếu

nữ sơn cước trên chiếc thuyền độc mộc trên dòng sông Mã, tạo nên chất thơ làm tiêu tan vẻ

dữ dội của “dòng nước lũ” hung hãn

+ Như để hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng

nước xiết. “Hoa đong đưa” là một hình ảnh lạ, hoa lá vô tri như được thổi hồn vào, gợi ra

ánh mắt lúng liếng tình tứ của những cô gái vùng núi xinh đẹp trẻ trung

+ Dường như trong khổ thơ nào của bài thơ cũng thấp thoáng bóng dáng của người đẹp như

vậy:

- Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

- Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

- Mai Châu mùa em thơm nếp xôi (đoạ n1)

- Kìa em xiêm áo tự bao giờ

- Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (đoạ n3)

→ Hình ảnh người đẹp thấp thoáng trong các khổ thơ đã điểm cho kí ức Tây Tiến chút lãng

mạn, mơ mộng, khiến cho câu chữ trở nên mềm mại hơn và lòng người cũng nhe ṇhàng

hơn…

- Những từ thấy, nhớ là những lời tự hỏi lòng mình đầy bâng khuâng, lưu luyến khi đã

cách xa với Tây Tiến cả về không gian và thời gian…

2. Tố Hữu và đoạn thơ

2.1 Khái quát

- Tố Hữu: nhà thơ cách mạng, khuynh hướng trữ tình chính trị.

- Bài thơ “Việt Bắc” ra đời gắn với chuỗi sự kiện lịch sử trọng đại.

- Đoạn thơ thuộc phần một của bài thơ, là lời của người ra đi với những kỉ niệm, bày tỏ lòng

biết ơn với ân tình của nhân dân và mảnh đất chiến khu.

2.2 Phân tích cụ thể.

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

Câu thơ “Ta với mình/mình với ta" ngắt nhịp 3/3, cặp đại từ mình - ta lặp lại xoắn xuýt để thể

hiện sự quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt. Câu thơ tiếp theo với nhịp ngắt 2/2/2/2 chắc

khỏe là lời khẳng định chắc chắn “lòng ta- sau trước- mặn mà- đinh ninh”. Tiếp đó, “Mình

đi mình lại nhớ mình” là sự láy lại, là câu trả lời cho sự băn khoăn của người ở lại trong khổ

thơ trên “mình đi mình nhớ mình”. Và để cu thể cho nỗi nhớ ấy tác giả mượn cách so

sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.

* Tái hiện hình ảnh Việt Bắc trong hồi tưởng:

- Nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

+ Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

+ Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói

cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ rất riêng của miền

rừng núi

3. So sánh

3.1 Điểm gặp gỡ

Cả hai doạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ và đằng sau ấy là ân tình của chiến sĩ giành cho đồng

bào, mảnh đất họ từng gắn bó, yêu thương.

3.2 Điểm khác biệt

- Đoạn thơ của Quang Dũng được viết bởi bút pháp trữ tình, lãng mạn, tài hoa, giàu chất

nhạc, họa. Vẻ đẹp của người lính tri thức Hà thành biết trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên và

con người là đóng góp riêng, hiếm .

Đoạn thơ của Tố Hữu gắn với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Lời thơ giàu bản

sắc dân tộc, mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống, văn học dân gian. Nhà thơ tôn vinh tình

cảm cách mạng, những tình cảm lớn lao, thiêng liêng.

- Hai đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung góp phần làm phong phú cho nền thơ ca kháng

chiến.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


SỞ GĐ & ĐT QUẢNG NAM

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

LÊ THÁNH TÔNG

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu

Bất cứ ai trong chúng ta cũng khao khát được một cuộc sống đầy cảm hứng, hạnh phúc và thành công.

Tuy nhiên, để đạt được những gì bạn thật sự mong ước, tất cả đều phải xuất phát từ việc nhận ra sự quan

trọng và tìm được cho mình một thái độ sống thông minh và tích cực nhất.

Một thái độ sống tích cực sẽ giúp bạn luôn lạc quan, yêu đời, tự tin để nhẹ nhàng lướt qua mọi gian nan,

thử thách trong cuộc sống. Ngược lại, một thái độ sống tiêu cực sẽ đóng chặt bạn vào những suy nghĩ,

cách nhìn phiến diện, vị kỷ, tự ti, đau khổ và dễ dàng dẫn đến thấy bại, bất hạnh. Thái độ của bạn ảnh

hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống và quyết định kết quả của mọi việc bạn làm.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Chúng ta ai cũng ít nhất một đôi lần mắc phải sai lầm, gặp thất bại, hay ở một trạng thái tinh thần chán

nản tồi tệ - nhưng không vì thế mà chúng ta mãi bị ám ảnh, day dứt mà không bao giờ dám tin mình sẽ

khác đi hay không dám làm một điều gì cả. Chính thái độ sống của chúng ta sau những va vấp ấy sẽ quyết

định: Liệu chúng ta cho phép mình trượt dài trên những thất bại triền miên hay sự va vấp ấy sẽ chính là

một cơ hội, một bài học, một trải nghiệm quí báu để chúng ta vươn lên, vững vàng và hoàn thiện mình

hơn?

(Nhập đề - Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời 2 – Keith D. Harrell – https://gacsach.com/doc-online))

Câu 1. Nhận biết

Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích. (0,5 điểm)

Câu 2. Thông hiểu

Trang 1


Nội dung của đoạn trích bàn về vấn đề gì? (0,5 điểm)

Câu 3. Nhận biết

Theo tác giả, thái độ sống tích cực sẽ mang đến điều lợi ích gì cho mỗi người? (1,0 điểm)

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị đồng ý với ý kiến cho rằng “Thái độ của bạn ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống và

quyết định kết quả của mọi việc bạn làm”? Vì sao? (1,0 điểm)

II.LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của

anh/chị về cách lựa chọn thái độ sống nhằm hoàn thiện bản thân.

Câu 2. (5,0 điểm) Vận dụng cao

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của người con gái trong tình yêu qua đoạn thơ sau

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

(Sóng – Xuân Quỳnh – Ngữ văn 12 tập 1 – NXB Giáo dục, 2014)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học

Cách giải:

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

2.

Phương pháp: tổng hợp

Cách giải:

Nội dung: Thái độ sống của mỗi người

3.

Trang 2

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn

Cách giải:

Thái độ sống tích cực sẽ đem lại: Lạc quan, yêu đời, tự tin để nhẹ nhàng lướt qua mọi gian

nan thử thách trong cuộc sống

4.

Phương pháp: phân tích, lí giải

Cách giải:

- Đồng ý.

- Lí giải:

+ Thái độ sống sẽ quyết định đến con đường, cách xử lí trước những khó khăn, khủng hoảng.

+ Thái độ sống tích cực sẽ đem đến cho bạn những cách giải quyết vấn đề tích cực.

+ Thái độ sống tiêu cực khiến bạn lâm vào trạng thái bi quan, chán nản, tuyệt vọng.

+ …

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Về kĩ năng:

- Biết cách làm bài nghị luận xã hội (về một tư tưởng đạo lý)

- Bài viết bố cục chặt chẽ; lập ý sáng tạo; vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận giải

thích, phân tích, chứng minh, bình luận; hành văn mạch lạc, trôi chảy, cảm xúc; không

mắc lỗi dùng từ, chính tả.

Về kiến thức: Bài làm thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau:

1. Giải thích

- Mỗi người cần lựa chọn thái độ sống tích cực để hoàn thiện bản thân.

- Thái độ sống tích cực: Thái độ chủ động trước cuộc sống, được biểu hiện thông qua cách

nhìn, cách nghĩ, cách hành dộng.

=> Thái độ sống tích cực sẽ đem đến thành công cho bản thân và truyền cảm hứng đến

những người xung quanh.

2. Luận bàn ý kiến

a. Biểu hiện của thái độ sống tích cực

- Có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống, về mối liên hệ giữa cá nhân với cuộc đời, về trách

nhiệm của bản thân với gia đình và xã hội.

- Luôn chủ động trước cuộc sống:

+ Xác định được mục tiêu sống, ước mơ, hoài bão, dám phấn đấu cho ước mơ, hoài bão

dù phải đối diện với nhiều thử thách khó khăn.

+ Luôn khát vọng vươn lên khẳng định bản thân và hoàn thiện mình, luôn phấn đấu sống

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


tốt, cho mình và cho mọi người.

+ Có năng lực sống, năng lực tinh thần mạnh mẽ, không buông xuôi đầu hàng trước khó

khăn, không dựa dẫm ỷ lại vào người khác.

- Thái độ sống tích cực là phẩm chất đáng quý của con người, là lối sống đẹp.

b. Những giá trị mà thái độ sống tích cực mang lại

* Với cá nhân:

- Người thái độ sống tích cực cơ hội thành công trong cuộc sống sẽ cao hơn đồng nghĩa

với việc tạo dựng được những thành quả từ chính sức lực, trí tuệ, lối sống của mình.

+ Những giá trị vật chất sẽ đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của cá nhân, góp phần giúp đỡ

người thân, cộng đồng.

+ Những giá trị tinh thần đem lại cho con người nhiều niềm vui, niềm hạnh phúc khi thấy

cuộc sống của mình ích, nghĩa, được quý trọng, được sự tự chủ, niềm lạc quan, sự

vững vàng từ những trải nghiệm cuộc sống.

* Với xã hội: Thái độ sống tích cực của cá nhân góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, tiến bộ.

3. Bài học nhận thức và hành động

- Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa to lớn của thái độ sống tích cực nhất là trong xu thế hội nhập

của đất nước.

- Tích cực phấn đấu rèn luyện trong học tập, trong cuộc sống, bồi dưỡng lòng tự tin, ý thức

tự chủ.

2 *Phương pháp:

_Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

_Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b.Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết

hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng

như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo nhiều

cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

-Xuân Quỳnh là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, thuộc thế hệ những nhà thơ

trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một

tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da

diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


-Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình),

là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ

in trong tập Hoa dọc chiến hào.

• Phân tích đoạn thơ

*Đoạn 1: Hình tượng sóng diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu

-Nỗi nhớ da diết, giày vò: bao trùm mọi không gian, hiện diện cả tần sâu lẫn bề rộng “dưới

lòng sâu, trên mặt nước”; choán ngợp cả vũ trụ bao la “Dẫu xuôi về phương Bắc / Dẫu

ngược về phương Nam”.

-Nỗi nhớ mãnh liệt, khắc khoải, triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ ngày sang

đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, dào dạt, không bao giờ ngưng lặng;

nỗi nhớ tồn tại trong ý thức và cả tiềm thức: “Ôi con sóng nhớ bờ / Ngày đêm không ngủ

được / Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức”

-Cảm xúc vô cùng phong phú: khi được bộc lộ trực tiếp, khi bộc lộ gián tiếp để diễn tả

nỗi nhớ vô biên tuyệt đích của một tình yêu chân thành, mãnh liệt.

*Đoạn 2: Hình tượng sóng diễn tả sự chung thủy trong tình yêu

-Dẫu vất vả, nhọc nhằn, dẫu phải xuôi ngược mọi không gian; dù xa xôi cách trở nhưng

“Em” chỉ luôn hướng về phương trời anh.

-Khát vọng về một tình yêu sắt son, không thay lòng đổi dạ dù bất cứ điều gì xảy ra. Đó là

nét đẹp tình yêu giàu tính nhân bản.

*Nghệ thuật:

-Thể thơ năm chữ với âm điệu nhịp nhàng, dào dạt như những đợt sóng biển, sóng lòng bồi

hồi da diết.

-Hình ảnh thơ mộc mạc, giàu ẩn dụ, nhân hóa tài hoa.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


SỞ GĐ & ĐT THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC HIỂU

Đọc doạn trích dưới đây:

“Giáp Tết là thời điểm những người đi xa trở về làng để tìm lại sự an ủi của những mất mát do

chính mình tạo ra, tắm mình trong thứ không khí trong lành và đầy ắp sự thiêng liêng (1). Nhưng giờ đây,

nếu ai nói ra cảm giác đó thì chỉ gây buồn cười (2). Thay vì trắng đồng trên đồng dưới là hàng vạn con

cò gắn với làng quê và tạo cho nó một gương mặt hiền hòa của sinh tồn, thì giờ đây là những túi ni lông

thảm họa, mang thông điệp của sự kiệt quệ, phải hàng trăm năm mới bị phân hủy, thay vì những cái ao

đẹp như trong tranh, thì giờ đây chỉ may lắm mới tìm được một vũng nước ngay cả cá c cũng không thể

nào sống nổi; thay vì tiếng chim hót ngọt cả không gian lảnh lót vang ra từ trong những khu vườn, thi lúc

nào cũng chói óc bởi thứ âm nhạc khiến người ta phát điên(3). Có rất nhiều nhà tầng khung bê tong được

mọc lên nhưng sự nhếch nhác thì lại không hề giảm đi(4). Rõ ràng người nông dân đang dần thoát nghèo

về vật chất nhưng lại nghèo hóa về tinh thần (5). Chẳng ai mong làng cứ nghèo mãi như xưa (6). Nhưng

thật tình thì phải sống trong những cái làng hiện đại vừa kể, khó mà thoát khỏi cảm giác của sự cực nhọc

(7)

(8)Nói một cách dễ hiểu nhất thì chúng ta đang cùng nhau đồng loạt bỏ mặc cho làng quê yêu dấu

biến mất, với một sự vô cảm đáng sợ. (9) Và như vật cũng sẽ biến mất phần không gian đặc sắc nhất của

văn hóa Việt.

Thực hiện các yêu cầu sau:

(Tạ Duy Anh – trích Làng quê đang dần biến mất, NXB Hội nhà văn)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Câu 1: Nhận biết

Trong đoạn trích, tác giả dẫn ra những hiểu hiện nào cho thấy “làng quê đang dần biến mất”

Câu 2: Thông hiểu

Theo anh/chị “cảm giác của sự cực nhọc” khi sống trong những cái làng hiện đại mà tác giả nói đến là gì?

Câu 3: Thông hiểu

Việc tác giả dẫn ra hàng loạt hình ảnh tương phản, đối lạp trong câu văn thứ (3) tác dụng gì?

Câu 4: Thông hiểu

Anh/chị hiểu thế nào về nhận xét của tác giả, rằng “người nông dân đang dần thoát nghèo về vật chất

nhưng lại nghèo hóa về tinh thần”? Anh/chị đồng tình với nhận xét đó?

Trang 1


II. LÀM VĂN

Câu 1: Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích trong phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày những

hậu quả thể xay đên khi quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt nhưng lại không sự quy

hoạch bài bản ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam hiện nay.

Câu 2: Vận dụng cao

Cảm nhận vẻ đẹp hào hùng, hào hoa và chất bi tráng ở hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ

sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, SGK Ngữ Văn 12)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Biểu hiện: Thay vì trắng đồng trên đồng dưới là hàng vạn con cò gắn với làng quê và tạo cho

nó một gương mặt hiền hòa của sinh tồn, thì giờ đây là những túi ni long thảm họa, mang

thông diệp của sự kiệt quệ, phải hàng trăm năm mới bị phân hủy, thay vì những cái ao đẹp

như trong tranh, thì giờ đây chỉ may lắm mới tìm được một vũng nước ngay cả cá c cũng

không thể nào sống nổi; thay vì tiếng chim hót ngọt cả không gian lảnh lót vang ra từ trong

những khu vườn, thi lúc nào cũng chói óc bởi thứ nhác khiến người ta phát điên.

2.

Phương pháp: phân tích

Cách giải:

Cái cực nhọc mà tác giả nói đến ở đây thể hiểu là: con người bị giam cầm trong những

ngôi nhà cao tầng tù túng, giam cầm trong môi trường sống yếu kém: ô nhiễm môi trường, ô

nhiễm tiếng ồn và đời sống tinh thần bị xuống cấp.

Trang 2

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


3.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Nhấn mạnh sự thay đổi của làng quê theo chiều hướng tiêu cực.

- Cho người đọc nhận thấy rõ làng quê bị phá hoại nghiệm trọng khi chưa được quy hoạch

đúng.

- Thể hiện thái độ đau đớn, xót xa của tác giả về một nền văn hóa Việt dần bị mai một.

- …

4.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Có thể hiểu: đời sống vật chất của con người đặc biệt người nông dân ngày được cải thiện,

thoát nghèo, ngày càng giàu . Nhưng đời sống tinh thần bị bỏ bê, nghèo nàn dần, dẫn đến

đánh mất những nét phẩm chất tốt đẹp vốn .

- Đồng tình

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giải thích

- Đô thị hóa: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị

hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng thể

tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng

rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,...

=> Đô thị hóa không quy hoạch sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng

2. Bàn luận

- Hậu quả của đô thị hóa không quy hoạch:

+ Ô nhiễm môi trường: đất, nước, không khí

+ Phá hủy nền văn hóa bản địa

+ Tha hóa lối sống của con người

+ Gia tăng tệ nạn xã hội

+…

- Giải pháp: đô thị hóa cần phương hướng, lộ trình rõ rang để tránh những hệ quả đáng

tiếc.

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giới thiệu chung

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


*Tác giả

- Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây. - Quang Dũng là

một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến

nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài

hoa. Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…

- Ông cũng là một chiến sĩ cách mạng, vì vậy thơ về người lính, về đề tài chiến tranh của ông

rất chân thực và mang đậm hơi thở của thời đại.

* Tác phẩm và đoạn trích

- Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang đơn vị

khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây

Tiến”.

- Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là “Tây Tiến”. Lược đi một chữ “Nhớ” khiến nhan đề

đọng, hàm súc hơn, mạch thơ, ý thơ không bị lộ và tạo âm điệu khỏe khoắn.

- Đoạn trích: Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến

2. Phân tích

a/ Ngoại hình (bi thương): được khắc hoạ bằng một nét vẽ rất gân guốc, lạ hoá nhưng lại

được bắt nguồn từ hiện thực:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

- Không mọc tóc, quân xanh màu lá đều là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp

mà người nào cũng phải trải qua. Trong hồi ức của những người lính TT trở về, đoàn quân tử

vong vì sốt rét rừng nhiều hơn là vì đánh trận bởi rừng thiêng nước độc mà thuốc men không

.

- QD không hề che giấu những gian khổ, khó khăn…, chỉ điều nhà thơ không miêu tả một

cách trần trụi. Hiện thực ấy được khúc xạ qua bút pháp lãng mạn của QD, trở thành cách nói

mang khẩu khí của người lính TT, cách nói rất chủ động: không mọc tóc chứ không phải tóc

không thể mọc vì sốt rét tạo nên nét dữ dội, ngang tàng, cứng cỏi của người lính TT; cái vẻ

xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính qua ngòi bút QD lại toát lên vẻ oai

phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng thiêng “quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

b/ Ẩn sau ngoại hình ấy là sức mạnh nội tâm (hào hùng):

- Đoàn binh gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường của "Quân đi điệp điệp trùng trùng" (Tố Hữu),

của "tam quân tì hổ khí thôn ngưu" (ba quân mạnh như hổ báo nuốt trôi trâu) (Phạm Ngũ

Lão).

- Dữ oai hùm là khí phách, tinh thần của đoàn quân ấy, như mang oai linh của chúa sơn lâm

rừng thẳm

- Mắt trừng là chi tiết cực tả sự giận dữ, phẫn nộ, sôi sục hướng về nhiệm vụ chiến đấu

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


→ Thủ pháp đối lập được sử dụng đắc địa trong việc khắc hoạ sự tương phản giữa ngoại

hình ốm yếu và nội tâm mãnh liệt, dữ dội, ngang tàng.

c/ Thế giới tâm hồn đầy mộng mơ thể hiện qua nỗi nhớ (lãng mạn):

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

- Những người lính TT không phải là những người khổng lồ không tim, bên trong cái vẻ oai

hùng, dữ dằn của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương “đêm

mơ HN dáng kiều thơm”. Dáng kiều thơm gợi vẻ đẹp yêu kiều, thướt tha thanh lịch của

người thiếu nữ Hà thành, là cái đẹp hội tụ sắc nước hương trời. Những giấc mơ mang hình

dáng kiều thơm đã trở thành động lực để giúp người lính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ;

đã thúc giục họ tiến lên phía trước; và cũng là sợi dây thiêng liêng của niềm tin mang họ

vượt qua bom đạn trở về.

d/ Lí tưởng, khát vọng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

- Câu thơ thứ nhất nếu tách ra khỏi đoạn thơ sẽ là một bức tranh hết sức ảm đạm:

+ Rải rác đây đó nơi biên cương của Tổ quốc, nơi rừng hoang lạnh lẽo xa xôi là những nấm

mồ vô danh không một vòng hoa, không một nén hương tưởng niệm. Hai chữ “rải rác” gợi

vẻ hiu hắt, quạnh quẽ thật ảm đạm và thê lương.

+ Trong một câu thơ mà tác giả sử dụng tới hai từ Hán Việt biên cương, viễn xứ mang màu

sắc trang trọng cổ kính như để bao bọc cho những nấm mồ xa xứ ấy một bầu không khí

thiêng liêng đượm vẻ ngậm ngùi, thành kính

- Mặc dù khung cảnh ấy hàng ngày vẫn trải ra trên các cung đường hành quân của người lính

TT nhưng nó không đủ sức làm các anh nản chí sờn lòng, mà trái lại càng nung nấu quyết

tâm “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

+ Đời xanh là tuổi trẻ, là bao mơ ước, khát vọng đang ở phía trước. Nhưng không gì quý hơn

Tổ quốc, không tình yêu nào cao hơn tình yêu Tổ quốc. Nên hai chữ “chẳng tiếc” vang

lên thật quyết liệt, dứt khoát như một lời thề chém đá.

d/ Đoạn thơ khép lại bằng sự hi sinh của họ:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

- Trong bài thơ, QD không hề né tránh hiện thực khắc nghiệt, dữ dội. Trong chặng đường

hành quân, nhiều người lính không thể vượt qua đã gục lên súng mũ bỏ quên đời. Dọc đường

TT cũng là vô vàn những nấm mồ liệt sĩ mọc lên “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”… Và bây

giờ, một lần nữa tác giả nhắc đến sự ra đi của họ Áo bào thay chiếu anh về đất. Người lính

TT gục ngã bên đường không đến cả mảnh chiếu để che thân, đồng đội phải đan cho họ

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


những tấm nứa, tấm tranh…

- Thế nhưng tác giả đã cố gắng làm giảm đi tính chất bi thương của những mất mát:

+ Áo bào (áo mặc ngoài của các vị tướng thời xưa) đã khiến họ trở thành những chiến tướng

sang trọng:

Áo chàng đỏ tựa ráng pha

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

+ Về đất là cách nói giảm nói tránh, cái chết lại là sự tựu nghĩa của những người anh hùng,

thanh thản và vô tư sau khi đã làm tròn nhiệm vụ (liên hê câu thơ của Tố Hữu: Thanh thản

chết như cày xong thửa ruộng…)

+ Sông Mã gầm lên khúc độc hành vừa dữ dội vừa hào hùng, khiến cái chết, sự hi sinh của

người lính TT không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Sông Mã tấu lên bản nhạc dữ

dội của núi rừng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng của dân tộc về nơi vĩnh hằng.

3. Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


HỘI 08 TRƯỜNG CHUYÊN

LẦN THI CHUNG THỨ

NHẤT

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Bạn không nên để thất bại ngăn mình tiến về phía trước. Hãy suy nghĩ tích cực về thất bại và rút ra

kinh nghiệm. Thực tế những người thành công luôn dùng thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn

thiện bản thân. Họ thể nghi ngờ phương pháp làm việc đã dẫn họ đến thất bại nhưng không bao giờ

nghi ngờ khả năng của chính mình.

Tôi xin chia sẻ với các bạn về câu chuyện về những người đã tìm cách rút kinh nghiệm từ thất bại

của mình để đạt được những thành quả to lớn trong cuộc đời.

Thomas Edison đã thất bại gần 10.000 lần trước khi phát minh thành công bóng đèn điện,

J.K.Rowling, tác giả của “Harry Poter”, đã bị hơn 10 nhà xuất bản từ chối bản thảo tập 1 của bộ sách.

Giờ đây, bộ tiểu thuyết này của bà trở nên vô cùng nối tiếng và đã được chuyển thể thành loạt phim rất

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

ăn khách. Ngôi sao điện ảnh Thành Long đã không thành công trong lần đóng phim đầu tiên ở

Hollywood. Thực tế bộ phim Hollywood đầu tay của anh, thất vọng lắm chứ, nhưng điều đó cũng đâu

ngăn được anh vùng lên với những phim cực kì ăn khách sau đó như “Giờ cao điểm” hay “Hiệp sĩ

Thượng Hải”.

Thất bại không phải cái cớ để ta chần chừ. Ngược lại nó phải là động lực tiếp thêm sức mạnh để ta

vươn tới thành công.

(Trích Tại sao lại chần chừ?, Tác giả Teo Aik Cher, Người dịch: Cao Xuân Việt Khương, An Bình,

NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr 39, 40)

Câu 1. Nhận biết

Chỉ ra mặt tích cực của thất bại mà “người thành công luôn dùng” được nêu trong đoạn trích.

Trang 1


Câu 2. Thông hiểu

Theo anh/chị, “suy nghĩ tích cực về thất bại” được nói đến trong đoạn trích được hiểu là gì?

Câu 3. Thông hiểu

Việc tác giả trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long

tác dụng gì?

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị cho rằng trong cuộc sống thất bại luôn “là cái cớ để ta chần chừ” không? Vì sao?

II.Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về bản thân cần chấp

nhận sự thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống?

Câu 2 (5,0 điểm) Vận dụng cao

Đọc hai đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc (Tố Hữu):

Đoạn 1:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Đoạn 2:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay

(Trích Việt Bắc, SGK Ngữ Văn 12, tập 1, NXB GD, 2016)

Anh/chị hãy cảm nhận hai đoạn thơ để thấy được “Việt Bắc” vừa là bản tình ca vừa là bản anh hùng ca về

cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Từ đó nêu nhận xét về nội dung thơ trữ tình – chính trị của

Tố Hữu.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân.

2.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Trang 2


Cách giải:

“Suy nghĩ tích cực về thất bại” thể hiểu là khi thất bại không nản lòng, từ trong thất bại

rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân.

3.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Tác dụng:

- Tăng sức thuyết phục đối với người đọc.

- Khẳng định không ai thành công phải không phải trải qua thất bại. Từ chính trong thất bại

học đã vươn đến thành công.

4.

Phương pháp: phân tích,lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Anh/chị thể lựa chọn trả lời đồng ý hoặc không và giải phù hợp.

Gợi ý:

- Đồng ý.

- Vì: Con người luôn mang trong mình tâm lí sợ hãi, bơi vậy khi gặp một lần thất bại sẽ

không dám bước tiếp, lấy lí do để ngừng cuộc chơi. Chính điều đó sẽ khiến họ không bao giờ

thể vươn đến thành công.

Làm văn

1 *Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận (bàn luận,

so sánh, tổng hợp,…)

*Cách giải:

a. Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh thể trình bày đoạn văn theo nhiều

cách khác nhau.

b. Xác định vấn đề nghị luận

c. Triển khai vấn đề cần nghị luận: vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút

ra bài học nhận thức và hành động.

1. Giới thiệu vấn đề

2. Giải thích

- Thất bại: là hỏng việc, thua mất, là không đạt được kết quả, mục đích như dự định.

- Thành công: là đạt được kế hoạch mục tiêu mình đã đề ra ban đầu

=> Trong hành trình để đi đến thành công không tránh khỏi những vấp ngã, thất bại. Nhưng

ta phải biết điều chỉnh từ chính những thất bại đó thì bản thân mới thể thành công.

3. Bàn luận

- Thái độ trước thất bại:

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ Trước một sự việc không thành, con người cần sự bình tĩnh để tìm hiểu nguyên nhân

của

sự thất bại.

+ Dám đối mặt để chấp nhận, không né tránh sự thật, cũng không đổ lỗi hoàn toàn cho khách

quan.

- Đứng lên từ thất bại

+ Biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, không chán nản và lùi bước trước thất bại.

+ Biết rút ra bài học từ những thất bại đã qua để tiếp tục thực hiện công việc và ước mơ của

mình.

4. Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân.

- Phê phán những con người sống thụ động, tiêu cực, dễ đầu hàng số phận, khi thất bại thì

luôn đổ thừa cho hoàn cảnh.

- Khó tránh thất bại trong mỗi đời người và cũng nên hiểu rằng chính sự thất bại là một trong

những điều kiện để đi đến thành công, “thất bại là mẹ thành công”.

- Phải biết cách chấp nhận sự thất bại để thái độ sống tích cực. Không đắm chìm trong

thất vọng nhưng cũng không được bất cần trước mọi sự việc, không để một sự thất bại nào

đó lặp lại trong đời. Đó là bản lĩnh sống

2 *Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận;

kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm

cũng như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo

nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến

- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Đường Cách mạng, đường thơ Tố

Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam.

- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng

chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc

kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và

thắng lợi của dân tộc.

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


- Ý kiến “ “Việt Bắc” vừa là bản tình ca vừa là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến và con

người kháng chiến”

• Phân tích hai đoạn trích

*Đoạn 1:

- Đoạn thơ là hình ảnh Việt Bắc thanh bình trong hồi tưởng của tác giả:

+ Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

+ Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói

cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đe p nên thơ rất riêng của miền

rừng núi

*Đoạn 2:

- Đoạn thơ tái hiện khung cảnh Việt Bắc trong chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn;

những hình ảnh hào hùng mạnh mẽ, sôi động, rung chuyển của núi rừng trước chiến dịch

Điện Biên Phủ lịch sử - cả nước cùng ra trận chiến cuối cùng này.

- Tính chất của cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện hiện diện rất đậm nét:

+Những đoàn quân chủ lực hành quân nối tiếp vô tận ra mặt trận với khí thế khẩn trương,

đông

đảo trùng trùng điệp điệp với ý chí quyết tâm cao độ của những người lính. Lý tưởng sống

cao đẹp như thăng hoa, bay bổng giữa không gian rừng đêm Ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ

nan.

+Những đoàn dân công tiếp lương tải đạn suốt ngày đêm, nối tiếp bước chân của những đội

quân chủ lực vào mặt trận với khí thế hừng hực, ý chí quyết tâm mạnh mẽ, không gì lay

chuyển được Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

• Nhận xét nội dung thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu

- Thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu thường đề cập đến những vấn đề lớn, ý nghĩa đối

với cộng đồng, dân tộc

- Tình cảm được đề cập đến trong những vần thơ này là tình cảm lớn: tình yêu lí tưởng, tình

yêu đất nước,…

- Giọng thơ mang tính tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, chân thành

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


SỞ GĐ & ĐT HÒA BÌNH

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

HOÀNG VĂN THỤ

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU (3.0 điểm):

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu dưới đây:

“…Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là giới trẻ Việt Nam rất dễ hùa và a dua theo những ngày lễ của

phương Tây như Valentine, Halloween, Noel hay thậm chí là Thanksgiving (Lễ tạ ơn của người Mĩ)…

nhưng với những ngày lễ của dân tộc, đặc biệt là Tết nguyên đán thì họ lại cho rằng nhiều hủ tục, lắm

phiền nhiễu làm giảm năng suất lao động và tốn kém.

Thực ra, những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ và phát triển kinh tế. Riêng ngày lễ Tình

nhân năm 2017, người Mĩ đã tiêu thụ hết 19,7 tỉ USD cho quà tặng của các cặp tình nhân. Với các dịp lễ

đoàn viên gia đình như Lễ tạ ơn và năm mới, con số tiêu thụ gấp khoảng chục lần. Người Mĩ rất chịu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

khó… nghỉ lễ và những dịp nghỉ lễ là cơ hội thúc đẩy họ kinh doanh, mua bán. Riêng trong mảng điện

ảnh mỗi năm Mĩ khoảng hơn chục dịp nghỉ lễ khác nhau và mỗi dịp nghỉ lễ, Hollywood đều những

bộ phim phù hợp để thu hút khán giả tăng hiệu suất phòng vé.

Việt Nam là một đất nước xuất phát từ nông nghiệp lúa nước, lễ hội cũng khá nhiều và nhiều lễ hội

trong đó biến thành hủ tục cần bài trừ. Nhưng với Tết Nguyên đán, với tôi, việc gộp nó vào Tết Tây là

một ý kiến phản văn hóa, phản truyền thống và thậm chí là vô cảm nếu xét theo ý nghĩa nhân văn.

Trong cơn lốc của phát triển kinh tế và chạy theo các giá trị văn hóa phương Tây, chúng ta càng

ngày càng dễ dàng xem thường và từ bỏ các giá trị văn hóa truyền thống, bởi một lý lo là nó cũ kĩ, lạc hậu

và quê mùa. Sự cách biệt giàu nghèo và các giá trị văn minh giữa các đô thị lớn và những vùng thôn quê

càng ngày càng khác biệt. Những chuyến trở về thăm quê vào mỗi dịp lễ tết dễ khiến giới trẻ rơi vào sự

Trang 1


lạc lõng và thậm chí khó chịu khi bị người ở quê sỗ sàng tra vấn về chuyện công danh địa vị, lương

thưởng, hay những chuyện riêng tư chồng con, gia đình!...”

(Trích Nỡ nào đòi bỏ Tết cổ truyền, Tết của quê hương? Báo Tuổi trẻ Online)

Câu 1. Nhận biết

Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 2. Nhận biết

Phân tích thao tác lập luận của văn bản trên. (1 điểm)

Câu 3. Nhận biết

Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào để chứng tỏ rằng “những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ

và phát triển kinh tế? (0,5 điểm)

Câu 4. Thông hiểu

Theo em, tác giả quan điểm như thế nào về việc gộp Tết Tây và Tết Nguyên đán? Quan điểm của em

về vấn đề này như thế nào ? (1 điểm)

II.LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Vận dụng cao

Từ văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc

giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc?

Câu 2: (5,0 điểm): Vận dụng cao

Viết về nỗi nhớ của những con người cách mạng trong bài thơ “Việt Bắc”, nhà thơ Tố Hữu viết:

“…Nhớ gì như nhớ người yêu,

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương.

Nhớ từng bản khói cùng sương,

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre,

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy…”

(Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007 tr.89)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Cảm nhận của em về đoạn thơ trên? Từ đó, liên hệ với đoạn thơ trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân

Quỳnh để thấy được cách thể hiện của mỗi nhà thơ về nỗi nhớ:

“…Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức…”

(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007, tr.155)

Trang 2


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học

Cách giải:

Phong cách ngôn ngữ: Chính luận

2.

Phương pháp: căn cứ các thao tác lập luận đã học

Cách giải:

Các thao tác lập luận:

- Phân tích: Đưa ra các số liệu cụ thể để phân tích, chứng minh cho việc thúc đẩy phát triển

kinh tế trong các dịp lễ ở phương Tây

- So sánh: Ngày lễ ở Tây và ở Việt Nam

- Bác bỏ: đưa ra những dẫn chứng, phân tích cụ thể để bác bỏ việc nhập tết tây vào tết ta

3.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Dẫn chứng:

- Riêng ngày lễ Tình nhân năm 2017, người Mĩ đã tiêu thụ hết 19,7 tỉ USD cho quà tặng của

các cặp tình nhân.

- Với các dịp lễ đoàn viên gia đình như Lễ tạ ơn và năm mới, con số tiêu thụ gấp khoảng

chục lần.

- Riêng trong mảng điện ảnh mỗi năm Mĩ khoảng hơn chục dịp nghỉ lễ khác nhau và mỗi

dịp nghỉ lễ, Hollywood đều những bộ phim phù hợp để thu hút khán giả tăng hiệu suất

phòng vé.

4.

Phương pháp: phân tích, lí giải

Cách giải:

- Tác giả phản đối việc gộp tết Tây với tết Ta.

- Học sinh trình bày quan điểm của bản thân.

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Về kĩ năng:

- Biết cách làm bài nghị luận xã hội (về một tư tưởng đạo lý)

- Bài viết bố cục chặt chẽ; lập ý sáng tạo; vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận giải

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


thích, phân tích, chứng minh, bình luận; hành văn mạch lạc, trôi chảy, cảm xúc; không

mắc lỗi dùng từ, chính tả.

Về kiến thức: Bài làm thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau:

1. Giới thiệu vấn đề: giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

2. Giải thích

- Văn hóa: là tất cả những yếu tố vật chất tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng xã hội,

được cộng đồng đó chấp nhận, sử dụng và gìn giữ nó theo thời gian. VD: văn hóa ứng xử,

văn hóa cổ truyền Việt Nam,….

- Vấn đề giữ gìn văn hóa: giữ gìn những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu

truyền từ xa xưa đến ngày nay.

=> Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu cấp thiết trong xu hướng toàn cầu hóa, để ta

hòa nhập mà không hòa tan.

3. Bàn luận vấn đề

- Hiện nay, nhiều người, nhất là những người trẻ đang dần quên mất những giá trị văn hóa tốt

đẹp. (VD: không biết cách cư xử văn hóa, sử dụng những từ ngữ, cách nói, cách viết làm

mất đi sự trong sáng của tiếng Việt v..v)

- Nhiều nền văn hóa khác nhau đã và đang du nhập vào Việt Nam: văn hóa châu Âu, văn hóa

Hàn quốc,v..v. Nhiều bạn trẻ bị ảnh hưởng quá nặng nề, dẫn đến những hành động quá mức,

thậm chí là lệch lạc, sai trái (sính ngoại, sống quá “ thoáng”,v..v)

- Tiếp thu những văn hóa mới lạ là điều cần thiết, nhưng hơn tất cả phải giữ gìn và phát triển

văn hóa dân tộc, không được để mất đi những giá trị tốt đẹp của cha ông để lại, nhất là trong

bối cảnh hiện nay, rất nhiều những mối đe dọa đang rình rập đối với đất nước

2 *Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận;

kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm

cũng như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo

nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến

- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Đường Cách mạng, đường thơ Tố

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam.

- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng

chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc

kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và

thắng lợi của dân tộc.

• Phân tích đoạn thơ

*Đoạn thơ là hình ảnh Việt Bắc thanh bình trong hồi tưởng của tác giả:

- Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

- Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói

cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ rất riêng của miền

rừng núi

- Những địa danh ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê không chỉ trải dài trên bản đồ địa lí của Việt

Bắc; không chỉ được khắc ghi trong lịch sử Cách mạng- là nơi đã diễn ra nhiều chiến công

oanh liệt; mà còn ghi dấu bao kỉ niệm của người ra đi.

• Liên hệ đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”

*Giới thiệu về Xuân Quỳnh

- Xuân Quỳnh là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của

một phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết

trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

- Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình).

Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.

*Phân tích đoạn thơ

Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ da diết, cháy bỏng trong tình yêu:

- Nỗi nhớ da diết, giày vò: bao trùm mọi không gian, hiện diện cả tầng sâu lẫn bề rộng “dưới

lòng sâu, trên mặt nước”; choán ngợp cả vũ trụ bao la “Dẫu xuôi về phương Bắc / Dẫu

ngược về phương Nam”.

- Nỗi nhớ mãnh liệt, khắc khoải, triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ ngày sang

đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ

ngày sang đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, dào dạt, không bao giờ

ngưng lặng; nỗi nhớ tồn tại trong ý thức và cả tiềm thức: “Ôi con sóng nhớ bờ / Ngày đêm

không ngủ được / Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức”

- Cảm xúc vô cùng phong phú: khi được bộc lộ trực tiếp, khi bộc lộ gián tiếp để diễn tả

nỗi nhớ vô biên tuyệt đích của một tình yêu chân thành, mãnh liệt.

*Giống và khác trong việc diễn tả nỗi nhớ:

- Giống:

+ Cả hai đều diễn tả tình cảm nhớ nhung chân thành của chủ thể trữ tình

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ Nỗi nhớ đều được diễn tả bằng những hình ảnh đặc trưng

- Khác:

+ Đoạn thơ trong bài thơ Việt Bắc là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng với mảnh đất

mình từng gắn bó – tình cảm quân dân tha thiết, mặn nồng. Tính chất trữ tình chính trị được

thể hiện rõ nét.

+ Đoạn thơ trong bài thơ Sóng là nỗi nhớ trong tình yêu da diết, mãnh liệt được diễn tả qua

hình tượng sóng – đó cũng chính là cung bậc cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu. Chất

lãng mạn được thể hiện đầy đủ nhất.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


SỞ GĐ & ĐT BẠC LIÊU

CỤM CHUYÊN MÔN 01

ĐỀ THI LẦN 2

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) (ID: 307140)

Đọc đoạn trích dưới đây:

(…) Nhà triết học người Anh, James Allen (1864 – 1912) đã dùng nguyên tắc “Nguyên nhân và kết quả”

đề cập đến sức mạnh tuyệt vời, thể dẫn con người và xã hội theo chiều hướng tốt đẹp, sức mạnh đó

nằm ở “trái tim trong sáng”.

Ngay cả trong kinh doanh hay chính trị, vẫn trường hợp không thành công dù người đó trong tay

tiền bạc, địa vị, năng lực, dù đã vắt óc, lên kế hoạch, tạo chiến lược chiến thuật.

Nhưng ngược lại, người trái tim cực kì trong sáng, suy nghĩ mọi việc một cách đơn giản đôi khi lại

được thành công một cách nhanh chóng bất ngờ. Bởi trong một trái tim trong sáng, trong suy nghĩ thành

tâm chứa đựng sức mạnh tuyệt vời. James Allen cho rằng những người thành công lớn nhờ họ xuất phát

từ tâm hồn, trái tim chân thành, trong sáng.

Tôi cũng tin chắc rằng những người được gọi là lãnh đạo, trước hết phải trang bị cho mình trái tim trong

sáng như Allen nói. Lịch sử đã chứng minh tiền tài, địa vị, quyền lực, đối sách không thắng nổi một trái

tim trong ngần không gợn đục, không thắng nổi một ý chí thành tâm thành ý. Sự nghiệp vĩ đại thực thụ là

sự thành công nhờ vào sự hiệp lực của nhiều người bằng tâm hồn cao quý, thanh khiết.

(Inamori Kazuo – Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế, NXB Trẻ, 2017, tr.84 – 85)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Nhận biết

Chỉ ra sức mạnh của “trái tim trong sáng” được nêu trong đoạn trích.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 1


Câu 2. Nhận biết

Theo tác giả, điều làm nên “sự nghiệp vĩ đại thực sự” là gì?

Câu 3. Thông hiểu

Việc tác giả dẫn ra nguyên tắc của nhà triết học James Allen tác dụng gì?

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị đồng ý với quan điểm cho rằng “những người thành công lớn nhờ họ xuất phát từ tâm hồn,

trái tim chân thành, trong sáng” không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm) (ID: 307146) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về điều bản

thân nên làm để thể thành công trong cuộc sống.

Câu 2: (5.0 điểm) (ID: 307147) Vận dụng cao

Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả sông Đà bằng nhiều giác quan

khác nhau. Có lúc, sông Đà hiện lên qua ấn tượng của thính giác: “Tiếng thác nước nghe như là oán

trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên

như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữ rừng vầu tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa,

rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy

sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Nhưng cũng khi, sông Đà được miêu tả bằng ấn tượng

của thị giác: “Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc ngồi tàu bay trên chiều cao

mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá

lờ lờ bóng mây dưới chân mình. Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân

tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo

đốt nương xuân.”

(Nguyễn Tuân – Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2015, tr.187 – 188 và tr.190 – 191)

Phân tích hình tượng sông Đà qua những đoạn miêu tả trên, từ đó làm nổi bật tính chất độc đáo của dòng

sông dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

-------------HẾT---------------

Trang 2


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu Nội dung

Đọc hiểu 1.

*Phương pháp: căn cứ nội dung văn bản

*Cách giải:

- Sức mạnh của “trái tim trong sáng: thể dẫn dắt con người và xã hội theo chiều hướng tốt

đẹp.

2.

*Phương pháp: căn cứ nội dung văn bản

*Cách giải:

Điều làm nên “sự nghiệp vĩ đại thực thụ” là: sự thành công nhờ vào sự hiệp lực của nhiều

người bằng tâm hồn cao quý, thanh khiết.

3.

*Phương pháp: phân tích, tổng hợp

*Cách giải:

Tác dụng:

- Giúp người đọc dễ dàng hình dung được vấn đề đang được đề cập đến.

- Tạo nên dẫn chứng chân thực, tăng độ tin cậy cho vấn đề .

4.

*Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

*Cách giải:

Học sinh thể lựa chọn đồng ý, không đồng ý hoặc đồng ý một phần miễn sao sự lí giải

hợp lí.

Gợi ý: Đồng tình.

- Khi mang trong mình trái tim chân thành, trong sáng, thuần khiết thì sẽ đem đến những

điều tốt đẹp nhất đến những người xung quanh.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

- Là bởi dốc hết trái tim sẽ được đền đáp bởi trái tim chân thành.

- Người trái tim chân thành, trong sáng,… sẽ dễ thành công hơn những kẻ gian trá, giảo

hoạt.

- ….

Làm văn

1 *Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

*Cách giải:

a.Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh thể trình bày đoạn văn theo nhiều

cách khác nhau.

b.Xác định vấn đề nghị luận: Người anh hùng trong thời đại ngày nay.

Trang 3


c.Triển khai vấn đề cần nghị luận: vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút

ra bài học nhận thức và hành động.

-Mở đoạn: giới thiệu vấn đề cần nghị luận.

-Thân đoạn: thể triển khai một số nội dung như:

1. Giải thích

- Thành công là gì? Thành công chính là kết quả, thành quả ngọt ngào mà một người gặt hái

được sau những ngày tháng nỗ lực, cống hiến hết mình cho một công việc, mục đích nào đó.

Nói một cách khác thành công chính là việc ta thực hiện được mục đích ban đầu mà ta đã đặt

trong trong công việc, học tập, hay một lĩnh vực cụ thể nào đó.

2. Bàn luận vấn đề

Muốn thành công con người cần phải:

- Đặt ra mục tiêu, phương hướng hành động đúng đắn

- Trong bất kì công việc nào cũng không ngừng nỗ lực, cố gắng

- Không ngại khó khăn, gian khổ, kiên định với mục tiêu đã đề ra….

- Trong hành trình đó mỗi chúng ta cũng cần một trái tim chân thành, tinh khiết, hành

động không trái lương tâm, đạo đức xã hội thì mới thể đạt được thành công. Cùng nâng

đỡ những người khác vươn đến thành công.

3. Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân

- Phê phán những kẻ lười biếng, không chí tiến thủ hoặc những kẻ không từ thủ đoạn nào

để đạt tới thành công.

- Liên hệ bản thân.

2 *Phương pháp:

_Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

_Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b.Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết

hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng

như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo nhiều

cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.Giới thiệu tác

giả, tác phẩm

- Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, uyên bác và là con người của nghệ thuật. Ông là một

định nghĩa về người nghệ sĩ. Cuộc đời cầm bút của ông là cuộc hành trình không mệt mỏi

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


khám phá và diễn tả cái đẹp của thiên nhiên sông núi quê hương, vẻ đẹp con người.

- Người lái đò sông Đà là thiên tùy bút rút trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân. Sông

Đà nói chung và tùy bút Người lái đò sông Đà nói riêng cho bạn đọc thấy một nhà văn

Nguyễn Tuân mới mẻ, hòa nhập vào cuộc sống lớn của đất nước và nhân dân, khác hẳn một

Nguyễn Tuân trước Cách mạng.

• Cảm nhận hình tượng sông Đà

a) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ nhất- Một Sông Đà hung bạo

Sự hung bạo của Sông Đà được tác giả tái hiện lần lượt ở cảnh đá bờ sông dựng vách thành,

ở ghềnh đá, ở những cái hút nước; nhưng sức mạnh khủng khiếp nhất của sông Đà dồn tụ lại

ở trận địa thác đá. Bằng sự cảm nhận của giác quan thính giác -> nhận ra dấu hiệu đầu tiên

của trận địa thác đá là âm thanh tiếng nước thác:

- Âm thanh phong phú: lúc thì nghe như là oán trách, lúc như van xin, khi thì khiêu khích,

giọng gằn mà chế nhạo, đặc biệt lúc rống lên

- Âm thanh rống lên gầm thét là sự cộng hưởng của:

+ tiếng một ngàn con trâu mộng, lại đang trong giây phút đối mặt với cái chết, lồng lộn tìm

đường thoát thân giữa rừng lửa bao vây

+ tiếng nổ lửa, phá tuông của cả rừng vầu, rừng tre nứa.

+ Thêm nữa, sự hợp sức của số nhiều (một nghìn con trâu mộng, cả rừng vầu rừng tre nứa)

khiến cho âm thanh tiếng nước thác đang “réo to mãi lên” thật là kinh sợ

+ Những vế câu dài liên tiếp đã góp phần gợi cảm giác dồn đuổi lấn lướt của lửa cháy bùng

bùng

- Hình ảnh “bọt trắng xóa cả một chân trời đá”

=> Dòng sông biến thành một sinh thể dữ dằn, gào thét trong những âm thanh cuồng nộ, ghê

sợ để trấn áp con người.

b) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ hai- Một Sông Đà trữ tình

Tác giả đã phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú cùng với những liên tưởng bất ngờ mà

thú vị để tái hiện hình ảnh Sông Đà:

- Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ

“con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây

trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương

xuân”.

+ Vừa mới đây thôi sông Đà còn là nơi hội tụ của những dữ dằn, hung bạo; vậy mà trong

chốc lát sóng nước đã xèo xèo tan trong trí nhớ để hiện hình trước mắt người đọc trong một

dáng vẻ hoàn toàn khác lạ.

+ Mái tóc tuôn tài tuôn dài tưởng chừng như bất tận, nó trập trùng ẩn hiện giữa mây trời Tây

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Bắc, nó bồng bềnh uốn lượn quanh co thướt tha duyên dáng… Mái tóc ấy như đang ôm lấy

dáng hình thanh tân trẻ trung gợi cảm đầy sức sống của người thiếu nữ Tây Bắc.

+ Màu trắng tinh khiết của hoa ban, màu đỏ rực rỡ của hoa gạo điểm vào suối tóc ấy khiến

nó thêm phần kiều diễm làm say lòng người. Tác giả dùng lối đảo trật tự câu “bung nở hoa

ban hoa gạo tháng hai” để nhấn mạnh thêm sức sống tràn căng của thiên nhiên Tây Bắc vào

thời điểm giữa mùa xuân, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của suối tóc Sông Đà

+ Hình ảnh “cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” đã tạo nên cái sương khói hư ảo

như ẩn giấu đi gương mặt đẹp bí ẩn của người thiếu nữ càng làm tăng thêm sức hấp dẫn…

=> sông Đà mang gương mặt, dáng vóc và nhan sắc của một mĩ nhân, sức gợi cảm, cuốn

hút đến vô cùng.

• Đánh giá, tổng hợp

Giá trị nội dung

- Nhân vật Sông Đà dưới ngòi bút sáng tạo của nhà văn lấp lánh hai nét tính cách: hung bạo

và trữ tình. Lúc hung bạo, con sông “mang diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một”

của con người. Lúc trữ tình, dòng chảy ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ, là một công trình

nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, trở một “mĩ nhân” đầy gợi cảm và hấp dẫn.

-> Qua đây tác giả cũng kín đáo thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết và niềm say mê, tự hào

với thiên nhiên của quê hương xứ sở mình

Đặc sắc nghệ thuật

- Hai trích đoạn đã cho thấy công phu lao động nghệ thuật nghiêm túc, khó nhọc của nhà

văn. Nguyễn Tuân đã phải dành nhiều tâm huyết và công sức để làm hiện lên những vẻ đẹp

và sắc thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc

- Nhà văn đã huy động tối đa các giác quan thị giác, xúc giác, thính giác và vận dụng tri thức

của nhiều lĩnh vực để tái hiện hình ảnh sông Đà gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc

- Nhà văn cũng đã thể hiện tài năng điêu luyện của một người nghệ sĩ ngôn từ trong việc tái

tạo những kì công của tạo hóa

III. Kết luận

- Khẳng định giá trị tác phẩm

- Khẳng định vị trí tác giả trên văn đàn

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRƯỜNG PTTH CHUYÊN

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.Đọc hiểu (3 điểm)

Anh/chị hãy đọc văn bản sau đây rồi trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

“Có một chiếc đồng hồ điện ở Versailles, Paris, được làm từ 1746 mà đến nay vẫn tiện dụng và hợp

thời, đúng nửa đêm 31/12/1999, nó đã gióng chuông và chuyển con số 1 (đeo đuổi trên hai trăm năm)

thành con số 2, kèm theo ba số không. Và, “theo tính toán hiện nay, chiếc đồng hồ này còn tiếp tục báo

năm báo tháng báo giờ… nghiêm chỉnh thêm năm trăm năm nữa”.

Sở dĩ người xưa làm được việc đó, vì họ luôn luôn hướng về một cái gì trường tồn. Duy cái điều

người liên hệ thêm “còn ngày nay, người ta chỉ chăm chăm xây dựng một tòa nhà dùng độ 20 năm rồi lại

phá ra làm cái mới” thì cần dừng lại kỹ hơn một chút.

Nếu người ta nói ở đây là chung cho con người thế kỷ XX thì nói thế là đủ. Một đặc điểm của kiểu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

tư duy hiện đại là nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu. Nhưng cái gì

thể trường tồn được thì họ vẫn làm theo kiểu trường tồn. Chính việc sẵn sàng chấp nhận mọi thay đổi

chứng tỏ sự tính xa của họ.

Riêng ở ta, phải nói thêm: trong tình trạng kém phát triển của khoa học và công nghệ một số người

cũng thích nói tới hiện đại. Nhưng trong phần lớn trường hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó

hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi.

Không phải những người tuyên bố “hãy làm đi, đừng nghĩ ngợi gì nhiều, bác bỏ sự nghĩ hoàn toàn.

Có điều ở đây, bộ máy suy nghĩ bị đặt trong tình trạng tự phát, người trong cuộc như tự cho phép mình

“được đến đâu hay đến đấy” “không cần xem xét và đối chiếu với mục tiêu lâu dài rồi tính toán cho mệt

óc, chỉ cần những giải pháp tạm thời, cốt đạt được những kết quả rõ rệt ai cũng trông thấy là đủ”. Bấy

Trang 1


nhiêu yếu tố gộp lại làm nên sự hấp dẫn đặc biệt của lối suy nghĩ thiển cận, vụ lợi và người ta cứ tự nhiên

mà sa vào đó lúc nào không biết”

(Vương Trí Nhàn – Nhân nào quả ấy, NXB Phụ nữ, 2005, tr.93 – 94)

Câu 1. Nhận biết

Theo tác giả bài viết trên, nguyên nhân nào khiến người xưa tạo nên được những sản phẩm giống như cái

chiếc đồng hồ ở điện Versailles?

Câu 2. Nhận biết

Đặc điểm của “kiểu tư duy hiện đại” của “con người thế kỉ XX” mà Vương Trí Nhàn chỉ ra là gì?

Câu 3. Thông hiểu

Tại sao tác giả không tán đồng với một số người “ở ta” khi họ “thích nói tới hiện đại”?

Câu 4. Thông hiểu

Theo anh (chị), thói thiển cận khác gì với đầu óc thực tế?

II. Làm văn

Câu 1 (2 điểm). Vận dụng cao

Hãy viết một đoạn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của anh/chị về bệnh “thiển cận và vụ lợi” trong học

tập của học sinh hiện nay.

Câu 2 (5 điểm). Vận dụng cao

Phân tích và chỉ ra sự khác biệt trong những câu thơ sau đây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

(Quang Dũng – Tây Tiến – SGK Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

“Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

(Tố Hữu – Việt Bắc – SGK Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

- Người xưa luôn hướng về sự trường tồn

2.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

“Kiểu tư duy hiện đại” của “con người thế kỉ XX” là: “nhanh, hoạt, không tính quá xa, vì

biết rằng mọi thứ nhanh chóng lạc hậu”.

3.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Tác giả không tán đồng với một số người “ở ta” khi họ “nói tới hiện đại” vì “phần lớn trường

hợp đó là một sự hiện đại học đòi méo mó, nó hiện ra thành cách nghĩ thiển cận và vụ lợi”.

4.

Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Sự khác biệt:

- Thói thiển cận là suy nghĩ và hành động nông cạn, chỉ nhìn thấy cái gần, cái trước mắt,

không biết nhìn xa, trông rộng.

- Đầu óc thực tế là kiểu tư duy coi trọng những gì thiết thực, hữu ích.

- Như vậy, hai cách nghĩ và làm trên quan điểm gần nhau những khác biệt là khó rõ,

nên biết thực tế những không nên sa vào thiển cận.

Làm văn

1 Phương pháp:phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giải thích

- Thói thiển cận là suy nghĩ và hành động nông cạn, chỉ nhìn thấy cái gần, cái trước mắt,

không biết nhìn xa, trông rộng.

- Vụ lợi: tham lam, chỉ biết vơ lợi ích cho mình.

=> Lối sống tiêu cực ngày càng phổ biến trong học sinh

2. Bàn luận

- Thiển cận và vụ lợi trong học tập của HS hiện nay là thực tế với nhiều biểu hiện: chỉ học

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


những môn để thi, tìm mọi cách để điểm cao, chỉ học những gì lợi cho mục đích ngắn

hạn của mình.

- Hậu quả: học lệch, tính cách ích kỉ, cách học ấy sẽ dẫn đến lệch lạc trong lối sống ở tương

lai.

3. Mở rộng và liên hệ bản thân

- Cần phải thay đổi căn bệnh này từ giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội.

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp:phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Yêu cầu chung:

- Thấy được điểm chung và nét riêng trong mỗi nhà thơ.

- Từ đó chỉ ra tài năng và tư duy của họ, phần nào thấy được đóng góp của mỗi nhà văn cho

văn học giai đoạn 1945 – 1975.

Yêu cầu cụ thể:

1. Quang Dũng và đoạn thơ

1.1 Khái quát

- Về tác giả: nhà thơ tài hoa, lãng tử, từng là thành viên của binh đoàn Tây Tiến

- Về tác phẩm: sáng tác khi nhà thơ đã rời xa đơn vị, tên là “Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành

“Tây Tiến”

- Đoạn thơ nằm ở khổ thơ thứ hai, khổ thơ tập trung thể hiện chất nghệ sĩ trong những người

chiến sĩ.

1.2 Phân tích đoạn thơ

- Trước hết là khung cảnh thiên nhiên:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

+ Không gian được bao trùm bởi một màn sương giăng mắc trở nên mờ ảo, như hư, như

thực. Sương chiều bảng lảng đầy thi vị, chứ không còn là “sương lấp đoàn quân mỏi” khi

màn đêm buông xuống

+ Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử, chỉ màu lau trắng trải dài tít tắp,

phất phơ theo chiều gió thổi, xôn xao ẩn chứa những nỗi niềm của con người… Thiên nhiên

như linh hồn, “hồn lau” hài hòa với “hồn thơ” của những người lính đa cảm. Cũng thể

hiểu “hồn lau” là một ẩn dụ đặc sắc gợi về vẻ đẹp giản dị, gần gũi, hồn hậu của những con

người miền Tây- những người lao động trên sông nước mênh mông.

- Trên nền thiên nhiên tĩnh lặng và thơ mộng đó nổi bật hình ảnh con người:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ “Dáng người trên độc mộc” phải chăng đó là dáng hình mềm mại, uyển chuyển của thiếu

nữ sơn cước trên chiếc thuyền độc mộc trên dòng sông Mã, tạo nên chất thơ làm tiêu tan vẻ

dữ dội của “dòng nước lũ” hung hãn

+ Như để hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng

nước xiết. “Hoa đong đưa” là một hình ảnh lạ, hoa lá vô tri như được thổi hồn vào, gợi ra

ánh mắt lúng liếng tình tứ của những cô gái vùng núi xinh đẹp trẻ trung

+ Dường như trong khổ thơ nào của bài thơ cũng thấp thoáng bóng dáng của người đẹp như

vậy:

- Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

- Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

- Mai Châu mùa em thơm nếp xôi (đoạ n1)

- Kìa em xiêm áo tự bao giờ

- Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm (đoạ n3)

→ Hình ảnh người đẹp thấp thoáng trong các khổ thơ đã điểm cho kí ức Tây Tiến chút lãng

mạn, mơ mộng, khiến cho câu chữ trở nên mềm mại hơn và lòng người cũng nhe ṇhàng

hơn…

- Những từ thấy, nhớ là những lời tự hỏi lòng mình đầy bâng khuâng, lưu luyến khi đã

cách xa với Tây Tiến cả về không gian và thời gian…

2. Tố Hữu và đoạn thơ

2.1 Khái quát

- Tố Hữu: nhà thơ cách mạng, khuynh hướng trữ tình chính trị.

- Bài thơ “Việt Bắc” ra đời gắn với chuỗi sự kiện lịch sử trọng đại.

- Đoạn thơ thuộc phần một của bài thơ, là lời của người ra đi với những kỉ niệm, bày tỏ lòng

biết ơn với ân tình của nhân dân và mảnh đất chiến khu.

2.2 Phân tích cụ thể.

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

Câu thơ “Ta với mình/mình với ta" ngắt nhịp 3/3, cặp đại từ mình - ta lặp lại xoắn xuýt để thể

hiện sự quấn quýt, gắn bó, không thể chia cắt. Câu thơ tiếp theo với nhịp ngắt 2/2/2/2 chắc

khỏe là lời khẳng định chắc chắn “lòng ta- sau trước- mặn mà- đinh ninh”. Tiếp đó, “Mình

đi mình lại nhớ mình” là sự láy lại, là câu trả lời cho sự băn khoăn của người ở lại trong khổ

thơ trên “mình đi mình nhớ mình”. Và để cu thể cho nỗi nhớ ấy tác giả mượn cách so

sánh, cách đo đếm đậm màu sắc dân gian: “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.

* Tái hiện hình ảnh Việt Bắc trong hồi tưởng:

- Nhớ cảnh Việt Bắc thanh bình:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

+ Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

+ Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói

cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ rất riêng của miền

rừng núi

3. So sánh

3.1 Điểm gặp gỡ

Cả hai doạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ và đằng sau ấy là ân tình của chiến sĩ giành cho đồng

bào, mảnh đất họ từng gắn bó, yêu thương.

3.2 Điểm khác biệt

- Đoạn thơ của Quang Dũng được viết bởi bút pháp trữ tình, lãng mạn, tài hoa, giàu chất

nhạc, họa. Vẻ đẹp của người lính tri thức Hà thành biết trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên và

con người là đóng góp riêng, hiếm .

Đoạn thơ của Tố Hữu gắn với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Lời thơ giàu bản

sắc dân tộc, mộc mạc, giản dị, gần gũi với đời sống, văn học dân gian. Nhà thơ tôn vinh tình

cảm cách mạng, những tình cảm lớn lao, thiêng liêng.

- Hai đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung góp phần làm phong phú cho nền thơ ca kháng

chiến.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


SỞ GĐ & ĐT QUẢNG NAM

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

LÊ THÁNH TÔNG

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu

Bất cứ ai trong chúng ta cũng khao khát được một cuộc sống đầy cảm hứng, hạnh phúc và thành công.

Tuy nhiên, để đạt được những gì bạn thật sự mong ước, tất cả đều phải xuất phát từ việc nhận ra sự quan

trọng và tìm được cho mình một thái độ sống thông minh và tích cực nhất.

Một thái độ sống tích cực sẽ giúp bạn luôn lạc quan, yêu đời, tự tin để nhẹ nhàng lướt qua mọi gian nan,

thử thách trong cuộc sống. Ngược lại, một thái độ sống tiêu cực sẽ đóng chặt bạn vào những suy nghĩ,

cách nhìn phiến diện, vị kỷ, tự ti, đau khổ và dễ dàng dẫn đến thấy bại, bất hạnh. Thái độ của bạn ảnh

hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống và quyết định kết quả của mọi việc bạn làm.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Chúng ta ai cũng ít nhất một đôi lần mắc phải sai lầm, gặp thất bại, hay ở một trạng thái tinh thần chán

nản tồi tệ - nhưng không vì thế mà chúng ta mãi bị ám ảnh, day dứt mà không bao giờ dám tin mình sẽ

khác đi hay không dám làm một điều gì cả. Chính thái độ sống của chúng ta sau những va vấp ấy sẽ quyết

định: Liệu chúng ta cho phép mình trượt dài trên những thất bại triền miên hay sự va vấp ấy sẽ chính là

một cơ hội, một bài học, một trải nghiệm quí báu để chúng ta vươn lên, vững vàng và hoàn thiện mình

hơn?

(Nhập đề - Thay Thái Độ Đổi Cuộc Đời 2 – Keith D. Harrell – https://gacsach.com/doc-online))

Câu 1. Nhận biết

Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích. (0,5 điểm)

Câu 2. Thông hiểu

Trang 1


Nội dung của đoạn trích bàn về vấn đề gì? (0,5 điểm)

Câu 3. Nhận biết

Theo tác giả, thái độ sống tích cực sẽ mang đến điều lợi ích gì cho mỗi người? (1,0 điểm)

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị đồng ý với ý kiến cho rằng “Thái độ của bạn ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống và

quyết định kết quả của mọi việc bạn làm”? Vì sao? (1,0 điểm)

II.LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của

anh/chị về cách lựa chọn thái độ sống nhằm hoàn thiện bản thân.

Câu 2. (5,0 điểm) Vận dụng cao

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của người con gái trong tình yêu qua đoạn thơ sau

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

(Sóng – Xuân Quỳnh – Ngữ văn 12 tập 1 – NXB Giáo dục, 2014)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học

Cách giải:

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

2.

Phương pháp: tổng hợp

Cách giải:

Nội dung: Thái độ sống của mỗi người

3.

Trang 2

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn

Cách giải:

Thái độ sống tích cực sẽ đem lại: Lạc quan, yêu đời, tự tin để nhẹ nhàng lướt qua mọi gian

nan thử thách trong cuộc sống

4.

Phương pháp: phân tích, lí giải

Cách giải:

- Đồng ý.

- Lí giải:

+ Thái độ sống sẽ quyết định đến con đường, cách xử lí trước những khó khăn, khủng hoảng.

+ Thái độ sống tích cực sẽ đem đến cho bạn những cách giải quyết vấn đề tích cực.

+ Thái độ sống tiêu cực khiến bạn lâm vào trạng thái bi quan, chán nản, tuyệt vọng.

+ …

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Về kĩ năng:

- Biết cách làm bài nghị luận xã hội (về một tư tưởng đạo lý)

- Bài viết bố cục chặt chẽ; lập ý sáng tạo; vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận giải

thích, phân tích, chứng minh, bình luận; hành văn mạch lạc, trôi chảy, cảm xúc; không

mắc lỗi dùng từ, chính tả.

Về kiến thức: Bài làm thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau:

1. Giải thích

- Mỗi người cần lựa chọn thái độ sống tích cực để hoàn thiện bản thân.

- Thái độ sống tích cực: Thái độ chủ động trước cuộc sống, được biểu hiện thông qua cách

nhìn, cách nghĩ, cách hành dộng.

=> Thái độ sống tích cực sẽ đem đến thành công cho bản thân và truyền cảm hứng đến

những người xung quanh.

2. Luận bàn ý kiến

a. Biểu hiện của thái độ sống tích cực

- Có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống, về mối liên hệ giữa cá nhân với cuộc đời, về trách

nhiệm của bản thân với gia đình và xã hội.

- Luôn chủ động trước cuộc sống:

+ Xác định được mục tiêu sống, ước mơ, hoài bão, dám phấn đấu cho ước mơ, hoài bão

dù phải đối diện với nhiều thử thách khó khăn.

+ Luôn khát vọng vươn lên khẳng định bản thân và hoàn thiện mình, luôn phấn đấu sống

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


tốt, cho mình và cho mọi người.

+ Có năng lực sống, năng lực tinh thần mạnh mẽ, không buông xuôi đầu hàng trước khó

khăn, không dựa dẫm ỷ lại vào người khác.

- Thái độ sống tích cực là phẩm chất đáng quý của con người, là lối sống đẹp.

b. Những giá trị mà thái độ sống tích cực mang lại

* Với cá nhân:

- Người thái độ sống tích cực cơ hội thành công trong cuộc sống sẽ cao hơn đồng nghĩa

với việc tạo dựng được những thành quả từ chính sức lực, trí tuệ, lối sống của mình.

+ Những giá trị vật chất sẽ đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của cá nhân, góp phần giúp đỡ

người thân, cộng đồng.

+ Những giá trị tinh thần đem lại cho con người nhiều niềm vui, niềm hạnh phúc khi thấy

cuộc sống của mình ích, nghĩa, được quý trọng, được sự tự chủ, niềm lạc quan, sự

vững vàng từ những trải nghiệm cuộc sống.

* Với xã hội: Thái độ sống tích cực của cá nhân góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, tiến bộ.

3. Bài học nhận thức và hành động

- Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa to lớn của thái độ sống tích cực nhất là trong xu thế hội nhập

của đất nước.

- Tích cực phấn đấu rèn luyện trong học tập, trong cuộc sống, bồi dưỡng lòng tự tin, ý thức

tự chủ.

2 *Phương pháp:

_Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

_Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b.Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết

hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng

như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo nhiều

cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

-Xuân Quỳnh là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, thuộc thế hệ những nhà thơ

trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một

tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da

diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


-Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình),

là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ

in trong tập Hoa dọc chiến hào.

• Phân tích đoạn thơ

*Đoạn 1: Hình tượng sóng diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu

-Nỗi nhớ da diết, giày vò: bao trùm mọi không gian, hiện diện cả tần sâu lẫn bề rộng “dưới

lòng sâu, trên mặt nước”; choán ngợp cả vũ trụ bao la “Dẫu xuôi về phương Bắc / Dẫu

ngược về phương Nam”.

-Nỗi nhớ mãnh liệt, khắc khoải, triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ ngày sang

đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, dào dạt, không bao giờ ngưng lặng;

nỗi nhớ tồn tại trong ý thức và cả tiềm thức: “Ôi con sóng nhớ bờ / Ngày đêm không ngủ

được / Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức”

-Cảm xúc vô cùng phong phú: khi được bộc lộ trực tiếp, khi bộc lộ gián tiếp để diễn tả

nỗi nhớ vô biên tuyệt đích của một tình yêu chân thành, mãnh liệt.

*Đoạn 2: Hình tượng sóng diễn tả sự chung thủy trong tình yêu

-Dẫu vất vả, nhọc nhằn, dẫu phải xuôi ngược mọi không gian; dù xa xôi cách trở nhưng

“Em” chỉ luôn hướng về phương trời anh.

-Khát vọng về một tình yêu sắt son, không thay lòng đổi dạ dù bất cứ điều gì xảy ra. Đó là

nét đẹp tình yêu giàu tính nhân bản.

*Nghệ thuật:

-Thể thơ năm chữ với âm điệu nhịp nhàng, dào dạt như những đợt sóng biển, sóng lòng bồi

hồi da diết.

-Hình ảnh thơ mộc mạc, giàu ẩn dụ, nhân hóa tài hoa.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


SỞ GĐ & ĐT THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC HIỂU

Đọc doạn trích dưới đây:

“Giáp Tết là thời điểm những người đi xa trở về làng để tìm lại sự an ủi của những mất mát do

chính mình tạo ra, tắm mình trong thứ không khí trong lành và đầy ắp sự thiêng liêng (1). Nhưng giờ đây,

nếu ai nói ra cảm giác đó thì chỉ gây buồn cười (2). Thay vì trắng đồng trên đồng dưới là hàng vạn con

cò gắn với làng quê và tạo cho nó một gương mặt hiền hòa của sinh tồn, thì giờ đây là những túi ni lông

thảm họa, mang thông điệp của sự kiệt quệ, phải hàng trăm năm mới bị phân hủy, thay vì những cái ao

đẹp như trong tranh, thì giờ đây chỉ may lắm mới tìm được một vũng nước ngay cả cá c cũng không thể

nào sống nổi; thay vì tiếng chim hót ngọt cả không gian lảnh lót vang ra từ trong những khu vườn, thi lúc

nào cũng chói óc bởi thứ âm nhạc khiến người ta phát điên(3). Có rất nhiều nhà tầng khung bê tong được

mọc lên nhưng sự nhếch nhác thì lại không hề giảm đi(4). Rõ ràng người nông dân đang dần thoát nghèo

về vật chất nhưng lại nghèo hóa về tinh thần (5). Chẳng ai mong làng cứ nghèo mãi như xưa (6). Nhưng

thật tình thì phải sống trong những cái làng hiện đại vừa kể, khó mà thoát khỏi cảm giác của sự cực nhọc

(7)

(8)Nói một cách dễ hiểu nhất thì chúng ta đang cùng nhau đồng loạt bỏ mặc cho làng quê yêu dấu

biến mất, với một sự vô cảm đáng sợ. (9) Và như vật cũng sẽ biến mất phần không gian đặc sắc nhất của

văn hóa Việt.

Thực hiện các yêu cầu sau:

(Tạ Duy Anh – trích Làng quê đang dần biến mất, NXB Hội nhà văn)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Câu 1: Nhận biết

Trong đoạn trích, tác giả dẫn ra những hiểu hiện nào cho thấy “làng quê đang dần biến mất”

Câu 2: Thông hiểu

Theo anh/chị “cảm giác của sự cực nhọc” khi sống trong những cái làng hiện đại mà tác giả nói đến là gì?

Câu 3: Thông hiểu

Việc tác giả dẫn ra hàng loạt hình ảnh tương phản, đối lạp trong câu văn thứ (3) tác dụng gì?

Câu 4: Thông hiểu

Anh/chị hiểu thế nào về nhận xét của tác giả, rằng “người nông dân đang dần thoát nghèo về vật chất

nhưng lại nghèo hóa về tinh thần”? Anh/chị đồng tình với nhận xét đó?

Trang 1


II. LÀM VĂN

Câu 1: Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích trong phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày những

hậu quả thể xay đên khi quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ chóng mặt nhưng lại không sự quy

hoạch bài bản ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam hiện nay.

Câu 2: Vận dụng cao

Cảm nhận vẻ đẹp hào hùng, hào hoa và chất bi tráng ở hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ

sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

(Trích Tây Tiến – Quang Dũng, SGK Ngữ Văn 12)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Biểu hiện: Thay vì trắng đồng trên đồng dưới là hàng vạn con cò gắn với làng quê và tạo cho

nó một gương mặt hiền hòa của sinh tồn, thì giờ đây là những túi ni long thảm họa, mang

thông diệp của sự kiệt quệ, phải hàng trăm năm mới bị phân hủy, thay vì những cái ao đẹp

như trong tranh, thì giờ đây chỉ may lắm mới tìm được một vũng nước ngay cả cá c cũng

không thể nào sống nổi; thay vì tiếng chim hót ngọt cả không gian lảnh lót vang ra từ trong

những khu vườn, thi lúc nào cũng chói óc bởi thứ nhác khiến người ta phát điên.

2.

Phương pháp: phân tích

Cách giải:

Cái cực nhọc mà tác giả nói đến ở đây thể hiểu là: con người bị giam cầm trong những

ngôi nhà cao tầng tù túng, giam cầm trong môi trường sống yếu kém: ô nhiễm môi trường, ô

nhiễm tiếng ồn và đời sống tinh thần bị xuống cấp.

Trang 2

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


3.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Nhấn mạnh sự thay đổi của làng quê theo chiều hướng tiêu cực.

- Cho người đọc nhận thấy rõ làng quê bị phá hoại nghiệm trọng khi chưa được quy hoạch

đúng.

- Thể hiện thái độ đau đớn, xót xa của tác giả về một nền văn hóa Việt dần bị mai một.

- …

4.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Có thể hiểu: đời sống vật chất của con người đặc biệt người nông dân ngày được cải thiện,

thoát nghèo, ngày càng giàu . Nhưng đời sống tinh thần bị bỏ bê, nghèo nàn dần, dẫn đến

đánh mất những nét phẩm chất tốt đẹp vốn .

- Đồng tình

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giải thích

- Đô thị hóa: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị

hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng thể

tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng

rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,...

=> Đô thị hóa không quy hoạch sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng

2. Bàn luận

- Hậu quả của đô thị hóa không quy hoạch:

+ Ô nhiễm môi trường: đất, nước, không khí

+ Phá hủy nền văn hóa bản địa

+ Tha hóa lối sống của con người

+ Gia tăng tệ nạn xã hội

+…

- Giải pháp: đô thị hóa cần phương hướng, lộ trình rõ rang để tránh những hệ quả đáng

tiếc.

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giới thiệu chung

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


*Tác giả

- Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây. - Quang Dũng là

một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến

nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài

hoa. Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…

- Ông cũng là một chiến sĩ cách mạng, vì vậy thơ về người lính, về đề tài chiến tranh của ông

rất chân thực và mang đậm hơi thở của thời đại.

* Tác phẩm và đoạn trích

- Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang đơn vị

khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây

Tiến”.

- Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là “Tây Tiến”. Lược đi một chữ “Nhớ” khiến nhan đề

đọng, hàm súc hơn, mạch thơ, ý thơ không bị lộ và tạo âm điệu khỏe khoắn.

- Đoạn trích: Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến

2. Phân tích

a/ Ngoại hình (bi thương): được khắc hoạ bằng một nét vẽ rất gân guốc, lạ hoá nhưng lại

được bắt nguồn từ hiện thực:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

- Không mọc tóc, quân xanh màu lá đều là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp

mà người nào cũng phải trải qua. Trong hồi ức của những người lính TT trở về, đoàn quân tử

vong vì sốt rét rừng nhiều hơn là vì đánh trận bởi rừng thiêng nước độc mà thuốc men không

.

- QD không hề che giấu những gian khổ, khó khăn…, chỉ điều nhà thơ không miêu tả một

cách trần trụi. Hiện thực ấy được khúc xạ qua bút pháp lãng mạn của QD, trở thành cách nói

mang khẩu khí của người lính TT, cách nói rất chủ động: không mọc tóc chứ không phải tóc

không thể mọc vì sốt rét tạo nên nét dữ dội, ngang tàng, cứng cỏi của người lính TT; cái vẻ

xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính qua ngòi bút QD lại toát lên vẻ oai

phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng thiêng “quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

b/ Ẩn sau ngoại hình ấy là sức mạnh nội tâm (hào hùng):

- Đoàn binh gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường của "Quân đi điệp điệp trùng trùng" (Tố Hữu),

của "tam quân tì hổ khí thôn ngưu" (ba quân mạnh như hổ báo nuốt trôi trâu) (Phạm Ngũ

Lão).

- Dữ oai hùm là khí phách, tinh thần của đoàn quân ấy, như mang oai linh của chúa sơn lâm

rừng thẳm

- Mắt trừng là chi tiết cực tả sự giận dữ, phẫn nộ, sôi sục hướng về nhiệm vụ chiến đấu

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


→ Thủ pháp đối lập được sử dụng đắc địa trong việc khắc hoạ sự tương phản giữa ngoại

hình ốm yếu và nội tâm mãnh liệt, dữ dội, ngang tàng.

c/ Thế giới tâm hồn đầy mộng mơ thể hiện qua nỗi nhớ (lãng mạn):

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

- Những người lính TT không phải là những người khổng lồ không tim, bên trong cái vẻ oai

hùng, dữ dằn của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương “đêm

mơ HN dáng kiều thơm”. Dáng kiều thơm gợi vẻ đẹp yêu kiều, thướt tha thanh lịch của

người thiếu nữ Hà thành, là cái đẹp hội tụ sắc nước hương trời. Những giấc mơ mang hình

dáng kiều thơm đã trở thành động lực để giúp người lính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ;

đã thúc giục họ tiến lên phía trước; và cũng là sợi dây thiêng liêng của niềm tin mang họ

vượt qua bom đạn trở về.

d/ Lí tưởng, khát vọng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

- Câu thơ thứ nhất nếu tách ra khỏi đoạn thơ sẽ là một bức tranh hết sức ảm đạm:

+ Rải rác đây đó nơi biên cương của Tổ quốc, nơi rừng hoang lạnh lẽo xa xôi là những nấm

mồ vô danh không một vòng hoa, không một nén hương tưởng niệm. Hai chữ “rải rác” gợi

vẻ hiu hắt, quạnh quẽ thật ảm đạm và thê lương.

+ Trong một câu thơ mà tác giả sử dụng tới hai từ Hán Việt biên cương, viễn xứ mang màu

sắc trang trọng cổ kính như để bao bọc cho những nấm mồ xa xứ ấy một bầu không khí

thiêng liêng đượm vẻ ngậm ngùi, thành kính

- Mặc dù khung cảnh ấy hàng ngày vẫn trải ra trên các cung đường hành quân của người lính

TT nhưng nó không đủ sức làm các anh nản chí sờn lòng, mà trái lại càng nung nấu quyết

tâm “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

+ Đời xanh là tuổi trẻ, là bao mơ ước, khát vọng đang ở phía trước. Nhưng không gì quý hơn

Tổ quốc, không tình yêu nào cao hơn tình yêu Tổ quốc. Nên hai chữ “chẳng tiếc” vang

lên thật quyết liệt, dứt khoát như một lời thề chém đá.

d/ Đoạn thơ khép lại bằng sự hi sinh của họ:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

- Trong bài thơ, QD không hề né tránh hiện thực khắc nghiệt, dữ dội. Trong chặng đường

hành quân, nhiều người lính không thể vượt qua đã gục lên súng mũ bỏ quên đời. Dọc đường

TT cũng là vô vàn những nấm mồ liệt sĩ mọc lên “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”… Và bây

giờ, một lần nữa tác giả nhắc đến sự ra đi của họ Áo bào thay chiếu anh về đất. Người lính

TT gục ngã bên đường không đến cả mảnh chiếu để che thân, đồng đội phải đan cho họ

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


những tấm nứa, tấm tranh…

- Thế nhưng tác giả đã cố gắng làm giảm đi tính chất bi thương của những mất mát:

+ Áo bào (áo mặc ngoài của các vị tướng thời xưa) đã khiến họ trở thành những chiến tướng

sang trọng:

Áo chàng đỏ tựa ráng pha

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

+ Về đất là cách nói giảm nói tránh, cái chết lại là sự tựu nghĩa của những người anh hùng,

thanh thản và vô tư sau khi đã làm tròn nhiệm vụ (liên hê câu thơ của Tố Hữu: Thanh thản

chết như cày xong thửa ruộng…)

+ Sông Mã gầm lên khúc độc hành vừa dữ dội vừa hào hùng, khiến cái chết, sự hi sinh của

người lính TT không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Sông Mã tấu lên bản nhạc dữ

dội của núi rừng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng của dân tộc về nơi vĩnh hằng.

3. Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


HỘI 08 TRƯỜNG CHUYÊN

LẦN THI CHUNG THỨ

NHẤT

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Bạn không nên để thất bại ngăn mình tiến về phía trước. Hãy suy nghĩ tích cực về thất bại và rút ra

kinh nghiệm. Thực tế những người thành công luôn dùng thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn

thiện bản thân. Họ thể nghi ngờ phương pháp làm việc đã dẫn họ đến thất bại nhưng không bao giờ

nghi ngờ khả năng của chính mình.

Tôi xin chia sẻ với các bạn về câu chuyện về những người đã tìm cách rút kinh nghiệm từ thất bại

của mình để đạt được những thành quả to lớn trong cuộc đời.

Thomas Edison đã thất bại gần 10.000 lần trước khi phát minh thành công bóng đèn điện,

J.K.Rowling, tác giả của “Harry Poter”, đã bị hơn 10 nhà xuất bản từ chối bản thảo tập 1 của bộ sách.

Giờ đây, bộ tiểu thuyết này của bà trở nên vô cùng nối tiếng và đã được chuyển thể thành loạt phim rất

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

ăn khách. Ngôi sao điện ảnh Thành Long đã không thành công trong lần đóng phim đầu tiên ở

Hollywood. Thực tế bộ phim Hollywood đầu tay của anh, thất vọng lắm chứ, nhưng điều đó cũng đâu

ngăn được anh vùng lên với những phim cực kì ăn khách sau đó như “Giờ cao điểm” hay “Hiệp sĩ

Thượng Hải”.

Thất bại không phải cái cớ để ta chần chừ. Ngược lại nó phải là động lực tiếp thêm sức mạnh để ta

vươn tới thành công.

(Trích Tại sao lại chần chừ?, Tác giả Teo Aik Cher, Người dịch: Cao Xuân Việt Khương, An Bình,

NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr 39, 40)

Câu 1. Nhận biết

Chỉ ra mặt tích cực của thất bại mà “người thành công luôn dùng” được nêu trong đoạn trích.

Trang 1


Câu 2. Thông hiểu

Theo anh/chị, “suy nghĩ tích cực về thất bại” được nói đến trong đoạn trích được hiểu là gì?

Câu 3. Thông hiểu

Việc tác giả trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long

tác dụng gì?

Câu 4. Thông hiểu

Anh/chị cho rằng trong cuộc sống thất bại luôn “là cái cớ để ta chần chừ” không? Vì sao?

II.Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về bản thân cần chấp

nhận sự thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống?

Câu 2 (5,0 điểm) Vận dụng cao

Đọc hai đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc (Tố Hữu):

Đoạn 1:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Đoạn 2:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay

(Trích Việt Bắc, SGK Ngữ Văn 12, tập 1, NXB GD, 2016)

Anh/chị hãy cảm nhận hai đoạn thơ để thấy được “Việt Bắc” vừa là bản tình ca vừa là bản anh hùng ca về

cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Từ đó nêu nhận xét về nội dung thơ trữ tình – chính trị của

Tố Hữu.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân.

2.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Trang 2


Cách giải:

“Suy nghĩ tích cực về thất bại” thể hiểu là khi thất bại không nản lòng, từ trong thất bại

rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân.

3.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Tác dụng:

- Tăng sức thuyết phục đối với người đọc.

- Khẳng định không ai thành công phải không phải trải qua thất bại. Từ chính trong thất bại

học đã vươn đến thành công.

4.

Phương pháp: phân tích,lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Anh/chị thể lựa chọn trả lời đồng ý hoặc không và giải phù hợp.

Gợi ý:

- Đồng ý.

- Vì: Con người luôn mang trong mình tâm lí sợ hãi, bơi vậy khi gặp một lần thất bại sẽ

không dám bước tiếp, lấy lí do để ngừng cuộc chơi. Chính điều đó sẽ khiến họ không bao giờ

thể vươn đến thành công.

Làm văn

1 *Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận (bàn luận,

so sánh, tổng hợp,…)

*Cách giải:

a. Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn: Thí sinh thể trình bày đoạn văn theo nhiều

cách khác nhau.

b. Xác định vấn đề nghị luận

c. Triển khai vấn đề cần nghị luận: vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, rút

ra bài học nhận thức và hành động.

1. Giới thiệu vấn đề

2. Giải thích

- Thất bại: là hỏng việc, thua mất, là không đạt được kết quả, mục đích như dự định.

- Thành công: là đạt được kế hoạch mục tiêu mình đã đề ra ban đầu

=> Trong hành trình để đi đến thành công không tránh khỏi những vấp ngã, thất bại. Nhưng

ta phải biết điều chỉnh từ chính những thất bại đó thì bản thân mới thể thành công.

3. Bàn luận

- Thái độ trước thất bại:

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ Trước một sự việc không thành, con người cần sự bình tĩnh để tìm hiểu nguyên nhân

của

sự thất bại.

+ Dám đối mặt để chấp nhận, không né tránh sự thật, cũng không đổ lỗi hoàn toàn cho khách

quan.

- Đứng lên từ thất bại

+ Biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, không chán nản và lùi bước trước thất bại.

+ Biết rút ra bài học từ những thất bại đã qua để tiếp tục thực hiện công việc và ước mơ của

mình.

4. Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân.

- Phê phán những con người sống thụ động, tiêu cực, dễ đầu hàng số phận, khi thất bại thì

luôn đổ thừa cho hoàn cảnh.

- Khó tránh thất bại trong mỗi đời người và cũng nên hiểu rằng chính sự thất bại là một trong

những điều kiện để đi đến thành công, “thất bại là mẹ thành công”.

- Phải biết cách chấp nhận sự thất bại để thái độ sống tích cực. Không đắm chìm trong

thất vọng nhưng cũng không được bất cần trước mọi sự việc, không để một sự thất bại nào

đó lặp lại trong đời. Đó là bản lĩnh sống

2 *Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận;

kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm

cũng như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo

nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến

- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Đường Cách mạng, đường thơ Tố

Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam.

- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng

chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc

kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và

thắng lợi của dân tộc.

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


- Ý kiến “ “Việt Bắc” vừa là bản tình ca vừa là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến và con

người kháng chiến”

• Phân tích hai đoạn trích

*Đoạn 1:

- Đoạn thơ là hình ảnh Việt Bắc thanh bình trong hồi tưởng của tác giả:

+ Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

+ Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói

cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đe p nên thơ rất riêng của miền

rừng núi

*Đoạn 2:

- Đoạn thơ tái hiện khung cảnh Việt Bắc trong chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn;

những hình ảnh hào hùng mạnh mẽ, sôi động, rung chuyển của núi rừng trước chiến dịch

Điện Biên Phủ lịch sử - cả nước cùng ra trận chiến cuối cùng này.

- Tính chất của cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện hiện diện rất đậm nét:

+Những đoàn quân chủ lực hành quân nối tiếp vô tận ra mặt trận với khí thế khẩn trương,

đông

đảo trùng trùng điệp điệp với ý chí quyết tâm cao độ của những người lính. Lý tưởng sống

cao đẹp như thăng hoa, bay bổng giữa không gian rừng đêm Ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ

nan.

+Những đoàn dân công tiếp lương tải đạn suốt ngày đêm, nối tiếp bước chân của những đội

quân chủ lực vào mặt trận với khí thế hừng hực, ý chí quyết tâm mạnh mẽ, không gì lay

chuyển được Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

• Nhận xét nội dung thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu

- Thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu thường đề cập đến những vấn đề lớn, ý nghĩa đối

với cộng đồng, dân tộc

- Tình cảm được đề cập đến trong những vần thơ này là tình cảm lớn: tình yêu lí tưởng, tình

yêu đất nước,…

- Giọng thơ mang tính tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, chân thành

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


SỞ GĐ & ĐT HÒA BÌNH

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

HOÀNG VĂN THỤ

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU (3.0 điểm):

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu dưới đây:

“…Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là giới trẻ Việt Nam rất dễ hùa và a dua theo những ngày lễ của

phương Tây như Valentine, Halloween, Noel hay thậm chí là Thanksgiving (Lễ tạ ơn của người Mĩ)…

nhưng với những ngày lễ của dân tộc, đặc biệt là Tết nguyên đán thì họ lại cho rằng nhiều hủ tục, lắm

phiền nhiễu làm giảm năng suất lao động và tốn kém.

Thực ra, những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ và phát triển kinh tế. Riêng ngày lễ Tình

nhân năm 2017, người Mĩ đã tiêu thụ hết 19,7 tỉ USD cho quà tặng của các cặp tình nhân. Với các dịp lễ

đoàn viên gia đình như Lễ tạ ơn và năm mới, con số tiêu thụ gấp khoảng chục lần. Người Mĩ rất chịu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

khó… nghỉ lễ và những dịp nghỉ lễ là cơ hội thúc đẩy họ kinh doanh, mua bán. Riêng trong mảng điện

ảnh mỗi năm Mĩ khoảng hơn chục dịp nghỉ lễ khác nhau và mỗi dịp nghỉ lễ, Hollywood đều những

bộ phim phù hợp để thu hút khán giả tăng hiệu suất phòng vé.

Việt Nam là một đất nước xuất phát từ nông nghiệp lúa nước, lễ hội cũng khá nhiều và nhiều lễ hội

trong đó biến thành hủ tục cần bài trừ. Nhưng với Tết Nguyên đán, với tôi, việc gộp nó vào Tết Tây là

một ý kiến phản văn hóa, phản truyền thống và thậm chí là vô cảm nếu xét theo ý nghĩa nhân văn.

Trong cơn lốc của phát triển kinh tế và chạy theo các giá trị văn hóa phương Tây, chúng ta càng

ngày càng dễ dàng xem thường và từ bỏ các giá trị văn hóa truyền thống, bởi một lý lo là nó cũ kĩ, lạc hậu

và quê mùa. Sự cách biệt giàu nghèo và các giá trị văn minh giữa các đô thị lớn và những vùng thôn quê

càng ngày càng khác biệt. Những chuyến trở về thăm quê vào mỗi dịp lễ tết dễ khiến giới trẻ rơi vào sự

Trang 1


lạc lõng và thậm chí khó chịu khi bị người ở quê sỗ sàng tra vấn về chuyện công danh địa vị, lương

thưởng, hay những chuyện riêng tư chồng con, gia đình!...”

(Trích Nỡ nào đòi bỏ Tết cổ truyền, Tết của quê hương? Báo Tuổi trẻ Online)

Câu 1. Nhận biết

Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 2. Nhận biết

Phân tích thao tác lập luận của văn bản trên. (1 điểm)

Câu 3. Nhận biết

Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào để chứng tỏ rằng “những ngày lễ tết là cơ hội để thúc đẩy tiêu thụ

và phát triển kinh tế? (0,5 điểm)

Câu 4. Thông hiểu

Theo em, tác giả quan điểm như thế nào về việc gộp Tết Tây và Tết Nguyên đán? Quan điểm của em

về vấn đề này như thế nào ? (1 điểm)

II.LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Vận dụng cao

Từ văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc

giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc?

Câu 2: (5,0 điểm): Vận dụng cao

Viết về nỗi nhớ của những con người cách mạng trong bài thơ “Việt Bắc”, nhà thơ Tố Hữu viết:

“…Nhớ gì như nhớ người yêu,

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương.

Nhớ từng bản khói cùng sương,

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre,

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy…”

(Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007 tr.89)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Cảm nhận của em về đoạn thơ trên? Từ đó, liên hệ với đoạn thơ trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân

Quỳnh để thấy được cách thể hiện của mỗi nhà thơ về nỗi nhớ:

“…Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức…”

(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007, tr.155)

Trang 2


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học

Cách giải:

Phong cách ngôn ngữ: Chính luận

2.

Phương pháp: căn cứ các thao tác lập luận đã học

Cách giải:

Các thao tác lập luận:

- Phân tích: Đưa ra các số liệu cụ thể để phân tích, chứng minh cho việc thúc đẩy phát triển

kinh tế trong các dịp lễ ở phương Tây

- So sánh: Ngày lễ ở Tây và ở Việt Nam

- Bác bỏ: đưa ra những dẫn chứng, phân tích cụ thể để bác bỏ việc nhập tết tây vào tết ta

3.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Dẫn chứng:

- Riêng ngày lễ Tình nhân năm 2017, người Mĩ đã tiêu thụ hết 19,7 tỉ USD cho quà tặng của

các cặp tình nhân.

- Với các dịp lễ đoàn viên gia đình như Lễ tạ ơn và năm mới, con số tiêu thụ gấp khoảng

chục lần.

- Riêng trong mảng điện ảnh mỗi năm Mĩ khoảng hơn chục dịp nghỉ lễ khác nhau và mỗi

dịp nghỉ lễ, Hollywood đều những bộ phim phù hợp để thu hút khán giả tăng hiệu suất

phòng vé.

4.

Phương pháp: phân tích, lí giải

Cách giải:

- Tác giả phản đối việc gộp tết Tây với tết Ta.

- Học sinh trình bày quan điểm của bản thân.

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp

Cách giải:

Về kĩ năng:

- Biết cách làm bài nghị luận xã hội (về một tư tưởng đạo lý)

- Bài viết bố cục chặt chẽ; lập ý sáng tạo; vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận giải

Trang 3

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


thích, phân tích, chứng minh, bình luận; hành văn mạch lạc, trôi chảy, cảm xúc; không

mắc lỗi dùng từ, chính tả.

Về kiến thức: Bài làm thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau:

1. Giới thiệu vấn đề: giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

2. Giải thích

- Văn hóa: là tất cả những yếu tố vật chất tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng xã hội,

được cộng đồng đó chấp nhận, sử dụng và gìn giữ nó theo thời gian. VD: văn hóa ứng xử,

văn hóa cổ truyền Việt Nam,….

- Vấn đề giữ gìn văn hóa: giữ gìn những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu

truyền từ xa xưa đến ngày nay.

=> Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là yêu cầu cấp thiết trong xu hướng toàn cầu hóa, để ta

hòa nhập mà không hòa tan.

3. Bàn luận vấn đề

- Hiện nay, nhiều người, nhất là những người trẻ đang dần quên mất những giá trị văn hóa tốt

đẹp. (VD: không biết cách cư xử văn hóa, sử dụng những từ ngữ, cách nói, cách viết làm

mất đi sự trong sáng của tiếng Việt v..v)

- Nhiều nền văn hóa khác nhau đã và đang du nhập vào Việt Nam: văn hóa châu Âu, văn hóa

Hàn quốc,v..v. Nhiều bạn trẻ bị ảnh hưởng quá nặng nề, dẫn đến những hành động quá mức,

thậm chí là lệch lạc, sai trái (sính ngoại, sống quá “ thoáng”,v..v)

- Tiếp thu những văn hóa mới lạ là điều cần thiết, nhưng hơn tất cả phải giữ gìn và phát triển

văn hóa dân tộc, không được để mất đi những giá trị tốt đẹp của cha ông để lại, nhất là trong

bối cảnh hiện nay, rất nhiều những mối đe dọa đang rình rập đối với đất nước

2 *Phương pháp:

- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).

- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản

nghị luận văn học.

*Cách giải:

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận;

kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm

cũng như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo

nhiều cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến

- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Đường Cách mạng, đường thơ Tố

Trang 4

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam.

- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng

chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc

kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và

thắng lợi của dân tộc.

• Phân tích đoạn thơ

*Đoạn thơ là hình ảnh Việt Bắc thanh bình trong hồi tưởng của tác giả:

- Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.

- Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói

cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ rất riêng của miền

rừng núi

- Những địa danh ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê không chỉ trải dài trên bản đồ địa lí của Việt

Bắc; không chỉ được khắc ghi trong lịch sử Cách mạng- là nơi đã diễn ra nhiều chiến công

oanh liệt; mà còn ghi dấu bao kỉ niệm của người ra đi.

• Liên hệ đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”

*Giới thiệu về Xuân Quỳnh

- Xuân Quỳnh là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của

một phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết

trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

- Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình).

Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.

*Phân tích đoạn thơ

Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ da diết, cháy bỏng trong tình yêu:

- Nỗi nhớ da diết, giày vò: bao trùm mọi không gian, hiện diện cả tầng sâu lẫn bề rộng “dưới

lòng sâu, trên mặt nước”; choán ngợp cả vũ trụ bao la “Dẫu xuôi về phương Bắc / Dẫu

ngược về phương Nam”.

- Nỗi nhớ mãnh liệt, khắc khoải, triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ ngày sang

đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ

ngày sang đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, dào dạt, không bao giờ

ngưng lặng; nỗi nhớ tồn tại trong ý thức và cả tiềm thức: “Ôi con sóng nhớ bờ / Ngày đêm

không ngủ được / Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức”

- Cảm xúc vô cùng phong phú: khi được bộc lộ trực tiếp, khi bộc lộ gián tiếp để diễn tả

nỗi nhớ vô biên tuyệt đích của một tình yêu chân thành, mãnh liệt.

*Giống và khác trong việc diễn tả nỗi nhớ:

- Giống:

+ Cả hai đều diễn tả tình cảm nhớ nhung chân thành của chủ thể trữ tình

Trang 5

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


+ Nỗi nhớ đều được diễn tả bằng những hình ảnh đặc trưng

- Khác:

+ Đoạn thơ trong bài thơ Việt Bắc là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng với mảnh đất

mình từng gắn bó – tình cảm quân dân tha thiết, mặn nồng. Tính chất trữ tình chính trị được

thể hiện rõ nét.

+ Đoạn thơ trong bài thơ Sóng là nỗi nhớ trong tình yêu da diết, mãnh liệt được diễn tả qua

hình tượng sóng – đó cũng chính là cung bậc cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu. Chất

lãng mạn được thể hiện đầy đủ nhất.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


SỞ GD&ĐT

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

THPT CHUYÊN HƯNG YÊN

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.PHẦN ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)

Những người dễ thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực cũng chính là những người biết chấp nhận cuộc

sống của bản thân. Mỗi người chúng ta đều những điểm mạnh, điểm yếu riêng, bởi vậy khi so sánh bản

thân với người khác, chúng ta không chỉ thấy “khoảng cách” giữa mọi người mà còn thấy được “sự khác

biệt” trong mỗi người.

Tự bản thân nghĩ như thế nào về mình được gọi là “tự đánh giá bản thân”. Khi một người đánh giá

thấp bản thân, anh ta sẽ tự giày vò bản thân bởi cảm giác tự ti, chán ghét chính mình và chỉ nhìn mọi

chuyện theo hướng tiêu cực. Cũng nhiều trường hợp so sánh điểm mạnh của người khác với điểm yếu

của bản thân, sau đó tự giam mình trong cảm giác tự ti, mặc cảm.

Ngược lại, nếu một người biết đánh giá bản thân phù hợp, dù gặp thất bại thì người đó vẫn tiếp tục hi

vọng vào lần sau, tiếp thu lần thất bại này và học hỏi kinh nghiệm trong đó.

Tôi một người quen. Anh là một người rất giỏi, học đại học Tokyo. Thời đại học, anh đi làm người

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

mẫu. Nhìn bề ngoài, anh hoàn hảo đến mức mọi người phải ghen tị, nhưng thực ra anh ấy lại tự đánh giá

thấp bản thân. Ngay từ nhỏ, anh ấy thường bị bố mẹ so sánh với người khác: “Con vẫn đang thua bạn đấy,

cố gắng lên”. Anh ấy luôn nghĩ, dù ở đâu, lĩnh vực gì, bản thân cũng chỉ là kẻ nửa vời mà thôi: “Dù vào

được đại học Tokyo thì vẫn nhiều người giỏi hơn, trong giới người mẫu vẫn rất nhiều người hơn

mình”. […]

Trong khi đó, anh Hirotada Ototake, tác giả của cuốn sách Không ai hoàn hảo, dù sinh ra với cơ thể

không lành lặn, khuyết thiếu cả hai chân hai tay, nhưng anh vẫn hoạt động rất tích cực với vai trò nhà báo

thể thao. Anh đã kết hôn và sống rất hạnh phúc. […]

Chính vì vậy, việc tự đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điều rất quan trọng”.

(Trích “Mình là cá, việc của mình là bơi”, Takeshi, Purukawa, NXB Thế giới)

Trang 1


1.Nhận biết

Theo tác giả, việc tự đánh giá thấp bản thân sẽ gây ra hậu quả gì? (0,5 điểm)

2.Thông hiểu

Anh/chị hiểu thế nào về câu nói “khi so sánh bản thân với người khác, chúng ta không chỉ thấy “khoảng

cách” giữa mọi người mà còn thấy được “sự khác biệt” trong mỗi người”? (1,0 điểm)

3.Thông hiểu

Theo anh/chị thế nào là “biết đánh giá bản thân phù hợp”? (0,5 điểm)

4.Thông hiểu

Anh/chị cho rằng việc chấp nhận những khuyết điểm của bản thân, coi nó là đặc trưng cho con người

mình sẽ khiến chúng trở nên tự mãn hay không? Vì sao? (1,0 điểm)

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm) Vận dụng cao

Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc – hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình

bày suy nghĩ của mình về ý kiến: “việc tự đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điều rất quan trọng”.

Câu 2 (5,0 điểm) Vận dụng cao

Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài đã 2 lần miêu tả sự trỗi dậy của sức sống tiềm

tàng trong nhân vật Mị. Trong đêm tình mùa xuân: “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi

chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách.” và trong

đêm đông: “Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây cởi trói cho A Phủ… Rồi Mị cũng vụt chạy ra.

Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc”.

Anh/chị hãy phân tích diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm

nổi bật sự khác biệt cơ bản trong hai lần sức sống tiềm tàng trỗi dậy ấy.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Câu

Nội dung

Đọc hiểu 1:

Phương pháp: căn cứ nội dung văn bản được trích

Cách giải:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Hậu quả việc tự đánh giá thấp bản thân: bị giày vò bởi cảm giác tự ti, chán ghét chính mình

và chỉ nhìn mọi chuyện theo hướng tiêu cực.

2.

Phương pháp: Phân tích, lí giải

Cách giải:

Có thể hiểu:

- Khi so sánh bản thân với người khác chúng ta thấy “khoảng cách” giữa mình và mọi người,

thể cao hơn, hoặc thấp hơn, khoảng cách nghiêng về việc ám chỉ thành tựu đạt được trong

cuộc sống.

Trang 2


- Không chỉ vậy, ta còn thấy sự khác biệt giữa mình với mọi người về những ưu thế, nhược

điểm của riêng mỗi người, sự khác biệt nghiêng về việc ám chỉ tài năng của từng cá nhân.

=> So sánh bản thân với người khác là cách thức giúp ta nhận thấy rõ bản thân, để từ đó

những phương hướng phấn đấu.

3.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Đánh giá bản thân phù hợp là khi nhìn nhận đúng bản thân về những ưu điểm và nhược điểm

của chính. Đánh giá chính xác, khách quan, để từ những đánh giá đó những phương

hướng phù hợp để phát huy lợi thế, giảm thiểu hoặc loại bỏ khuyết điểm.

4.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Khi chấp nhận khuyết điểm của bản thân, coi đó là đặc trưng cho con người mình sẽ khiến

chúng trở nên tự mãn.

- Vì: khuyết điểm của bản thân khi coi nó là đặc trưng khiến chúng ta không ý thức đó là

điểm yếu cần phải thay đổi, mà coi đó là một điểm khu biệt, điểm nhấn, từ đó thói thỏa mãn

sẽ hình thành.

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Về kĩ năng:

- Biết cách làm bài nghị luận xã hội (về một tư tưởng đạo lý)

- Bài viết bố cục chặt chẽ; lập ý sáng tạo; vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận giải

thích, phân tích, chứng minh, bình luận; hành văn mạch lạc, trôi chảy, cảm xúc; không

mắc lỗi dùng từ, chính tả.

Về kiến thức: Bài làm thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần làm nổi bật các ý sau:

1. Giới thiệu vấn đề: Việc tự đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điều rất quan trọng

2. Giải thích

- Tự đánh giá bản thân: là khả năng nhận thức được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân.

Nhận thức rõ mình muốn gì, cần gì và phương hướng hành động để thực hiện những mục

tiêu đó.

=> Việc đánh giá đúng bản thân là điều vô cùng quan trọng

3. Bàn luận

- Đánh giá bản thân ở mức thích hợp sẽ giúp chúng ta biết phát huy những lợi thế, hạn chế

hoặc loại bỏ những khuyết điểm để từ đó vươn đến thành công.

- Đánh giá đúng bản thân cũng khiến cho chúng ta niềm tin, hi vọng vào cuộc sống. Gặp

thất bại cũng không nản lòng, bỏ cuộc mà tiếp tục phấn đấu tiến về phía trước.

- Đánh giá đúng bản thân cũng khiến cho cuộc sống của bạn trở nên tốt đẹp hơn, ý nghĩa

hơn, hài lòng với những gì mình và không ngừng phấn đấu.

- Đánh giá đúng bản thân không nghĩa là tự mãn, thỏa mãn với những gì mình , đề cao

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


những khuyết điểm. Làm như vậy chỉ khiến ta nhanh chóng đi đến thất bại.

=> Đánh giá đúng bản thân, đánh giá một cách thích hợp là điều vô cùng quan trọng trong

cuộc sống mỗi con người.

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

a.Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu

được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b.Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết

hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng

như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh thể triển khai theo nhiều

cách nhưng phải bám

sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là một nhà văn lớn, số

lượng đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác của ông thiên về diễn tả những sự

thật của đời thường. Ông vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của

nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối

trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu – nhiều khi rất bình

dân và thông tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên sức lôi cuốn, lay động

người đọc.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc, được tặng giải Nhất –

Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955, sau hơn nửa thế kỉ, đến nay vẫn giữ gần

như nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc.

• Giới thiệu nhân vật Mị

Nhà văn Tô Hoài đã dồn tất cả yêu thương để khắc họa nên hình ảnh một cô gái Mông vẻ

đẹp toàn diện giữa vùng núi cao Hồng Ngài

- Xinh đẹp: “Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị”

- Tài năng: Mị còn “thổi sáo giỏi” và “thổi lá cũng hay như thổi sáo”, hay đến mức “ bao

nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”

- Chăm chỉ, hiếu thảo và khát vọng tự do: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con

phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”

-> hội tụ những vẻ đẹp ấy, tuổi trăng tròn của Mị tràn trề cơ hội được hưởng tình yêu và

hạnh phúc.

• Cảm nhận về đoạn trích đầu tiên

* Vị trí đoạn trích và tóm tắt diễn biến dẫn đến đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần giữa

của câu chuyện, được bắt đầu từ khung cảnh ngày xuân với những màu sắc rực rỡ và âm

thanh rộn rã náo nhiệt, từ tiếng sáo gọi bạn tình réo rắt, từ hũ rượu mà Mị cứ uống ực từng

bát trong bữa cơm ngày Tết cúng ma. Những tác nhân đó đã dìu hồn Mị bềnh bồng sống lại

những đêm Tết ngày trước. Mị quên đi thực tại, sống về quá khứ tươi đẹp rồi lại trở lại thực

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


tại bi kịch. Khát khao được sống một cuộc đời tự do trỗi dậy trong Mị.

* Phân tích đoạn trích: Đoạn trích đã cho thấy sức sống tiềm tàng, khát vọng sống chân

chính của Mị:

+ Mị “Mị muốn đi chơi”, tình trạng sống mà như chết đã được cởi bỏ

+ Lần đầu tiên sau sau những tháng ngày mất ý niệm về thời gian, không gian và bản thân,

Mị bừng tỉnh để ý thức về bản thân và quyền sống, trỗi dậy khát vọng hạnh phúc, sửa soạn

cho chính mình “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”

- Tiếng sáo chính là nguyên nhân cơ bản làm trỗi dậy sức sống tiềm tàng trong Mị “Trong

đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo”

-> Liên hệ tác phẩm:

+ Trong hơi rượu, trong tiếng sáo tha thiết, sức ám ảnh của tuổi xuân cứ lớn dần. Với những

hành động như người mộng du, Mị đang vượt thoát khỏi hoàn cảnh để tìm lại chính mình:

. Mị thấy phơi phới trở lại trong lòng… Mị còn trẻ. Mị muốn đi chơi

. Mị lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Mị thắp sáng căn buồng như

thắp sáng khát vọng của đời mình

+ Mị không quan tâm đến sự hiện hữu của A Sử. Lúc này, A Sử vừa về, lại đang sửa soạn đi

chơi, muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ, nó lấy làm lạ trước những hành động

của Mị, cất tiếng hỏi nhưng Mị cũng không buồn đáp lời

-> Và hành động vượt thoát hoàn cảnh của Mị đã bị A Sử chặn đứng. Tuy nhiên, hành động

dã man của A Sử chỉ thể trói buộc được thân xác Mị, ngăn cản được hành động đi chơi

của Mị chứ không thể dập tắt sức sống mãnh liệt đang trào dâng trong Mị. Trong hơi rượu

nồng nàn, Mị quên đi những đau đớn thể xác để thả hồn theo tiếng sáo gọi bạn tình, đến với

những cuộc chơi…

Giá trị nhân đạo:

Tuy rằng lần vùng vẫy thứ nhất không đủ sức để thay đổi số phận của Mị nhưng nó ý

nghĩa thật sâu sắc, cho biết rằng sức sống của Mị vẫn còn và thể hồi sinh. Khát vọng

sống, khát vọng hạnh phúc vẫn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật, như ngọn lửa âm ỉ

cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh, chỉ cần một trận gió là nó thể bùng cháy mãnh liệt.

• Cảm nhận về đoạn trích thứ hai

* Vị trí đoạn trích và tóm tắt diễn biến dẫn đến đoạn trích: đoạn trích nằm ở phần cuối

truyện, được bắt đầu từ lúc Mị chứng kiến A Phủ bị trói đứng giữa đêm đông giá rét. Mị đêm

nào cũng dậy thổi lửa hơ tay, hơ lưng và chứng kiến A Phủ đã bị trói mấy đêm liền. Chứng

kiến những giọt nước mắt của A Phủ, Mị chợt nhớ lại khi mình bị A Sử trói. Sự đồng cảm và

thương cảm kia đã thôi thúc Mị đi đến hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ.

* Phân tích đoạn trích: Đoạn trích thể hiện sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm mùa

đông.

- Hành động “Rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây” thể hiện đỉnh cao của sự thức dậy

sức sống tiềm tàng

- Nguyên nhân:

+ Giọt nước mắt A Phủ “giọt nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”.

+ Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ, nhớ về kí ức đau khổ -> thương mình -> thương người.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


+ Mị từ cõi vô thức dần sống lại ý thức, nhận ra dấu hiệu về cái chết -> càng thương hơn ->

thương người lấn át cả thương thân -> Hành động cắt dây cởi trói.

- Hành động : “Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A

Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc”

+ Thể hiện sự hốt hoảng, sợ hãi của Mị

+ Thể hiện sự tự vệ chính đáng của Mị

+ Thể hiện khát khao muốn được sống một cuộc đời khác

Giá trị nhân đạo:

Lần thức dậy thứ hai của sức sống tiềm tàng này đã giải thoát cho Mị và A Phủ khỏi cuộc

đời cùng cực, khổ đau. Mị đã không chỉ cứu sống được cuộc đời của mình mà còn cứu sống

được cuộc đời của người khác. Qua đó ta thấy tác giả muốn ca ngợi sức sống mãnh liệt của

người dân lao động miền núi.

=> Qua hai lần nổi dậy của Mị ta thể thấy: Nếu như trong lần thứ nhất, hành động nổi

loạn mới dừng lại ở suy nghĩ và bị chặn đứng bởi cường quyền thì trong lần nổi loạn thứ hai

Mị đã bứt phá. Mị không chỉ dừng lại ở suy nghĩ mà đã biến thành hành động. Hành động

đầu tiên là cứu người, biểu tượng cho giá chị nhân đạo, nhân văn cao cả. Hành động thứ hai

là cứu mình, dù hành động này tuy là bộc phát nhưng cũng đã chứng tỏ sức sống tiềm tàng

của Mị: Mị phá bỏ thần quyền, cường quyền để đến với cuộc đời tự do.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


SỞ GD&ĐT

TỈNH NINH BÌNH

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Với mỗi người dân Việt Nam, Vua Hùng là vị Tổ đã công dựng nên quốc gia Văn lang – Nhà nước sơ

khai của dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương một vị trí rất quan trọng

trong đời sống tâm linh và tình cảm của các thế hệ người dân Việt Nam, vừa thiêng liêng, vừa cụ thể, vừa

là điểm tựa tinh thần, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau dựng nước và giữ nước mà

Bác Hồ đã khái quát thành chân lí của dân tộc và của thời đại: “Các Vua Hùng đã công dựng nước,

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Chính vì vậy, đã thành truyền thống, vào những ngày đất trời đón tiết Xuân ấm áp, dù là hòa bình hay

thời chiến, dù đất nước thịnh vượng hay khó khăn thì trên ngọn núi Nghĩa Lĩnh linh thiêng – Vua Hùng

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

vẫn giang rộng vòng tay đón hàng triệu cháu con từ khắp mọi miền đất nước và trên khắp năm châu bốn

biển về đất Tổ thắp nén tâm nhang tri ân công đức Quốc Tổ Hùng Vương. Trên núi Nghĩa Lĩnh linh

thiêng, trong sắc trời xanh cao lồng lộng của ngày Giỗ Tổ hàng năm ta như thấy ánh hào quang rực rỡ

cuốn theo trên những sải cánh chim Lạc.

(Hà Thanh, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, bản sắc văn hóa của người Việt, Tạp chí Khoa học và

công nghệ, số 39, tháng 3/2015)

Câu 1: Nhận biết

Xác định phong cách ngôn ngữ chính của văn bản trên.

Câu 2: Thông hiểu

Chỉ ra và nêu tác dụng của phép điệp cụm từ trong văn bản trên.

Trang 1


Câu 3: Thông hiểu

Anh (chị) những hiểu biết như thế nào về thời đại Hùng Vương?

Câu 4: Thông hiểu

Nêu ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống văn hóa người Việt.

II.LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm) Vận dụng cao

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng biến tướng trong

việc tổ chức lễ hội ở một số vùng miền trên đất nước ta hiện nay.

Câu 2 (5,0 điểm) Vận dụng cao

Trong bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả hành trình của sông

Hương:

Ở thượng nguồn: “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm

rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí

ẩn, và cũng lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên

rừng”.

Khi về đến thành phố Huế: “sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô

Kim Long”; “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng

sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”; “Đấy là điệu slow tình cảm dành

riêng cho Huế”; “Sông Hương trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”.

(Hoàng Phủ Ngọc Tường – Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008, tr.198 – tr.199 và

tr.200)

Hãy phân tích các chi tiết trên để làm nổi bật nét đặc sắc trong hành trình của Sông Hương, từ đó nhận xét

về nghệ thuật miêu tả của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Câu

-----------HẾT------------

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học

Cách giải:

- Phong cách ngôn ngữ: chính luận

2.

Phương pháp: căn cứ bài Điệp từ, phân tích

Cách giải:

- Cụm từ điệp: Chính vì vậy

- Tác dụng: Cụm từ “chính vì vậy” được điệp lại hai lần mang tính chất khảng định truyền thống

biết ơn, thờ cúng tổ tiên của nhân dân ta.

3.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Trang 2


Làm văn

Thời đại Hùng Vương: Thời đại Hùng Vương được quan niệm là một thời kỳ văn minh tiến triển

trong hơn một thiên niên kỷ để ra đời nhà nước, đã làm nên nhiều kỳ tích về văn minh vật

chất và văn hóa. Thời đại mà đất nước ta nhiều bước ngoặt vĩ đại:

- Đỉnh cao là công nghệ luyện đồng, đặc sắc nhất là những chiếc trống đồng âm lượng lớn, tiếng

trong trẻo, vang xa, nghệ thuật trang trí tuyệt mĩ.

- Là cuộc di dân từ miền núi về miền trung du mở mang bờ cõi, tạo lập đời sống thâm canh lúa

nước, tăng cường khả năng phát triển kinh tế.

- Sự ra đời của nhà nước Văn Lang.

4.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:

- Thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ với người đã khuất.

- Thể hiện lòng biết ơn với công ơn thế hệ đi trước.

- …

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

1. Giới thiệu vấn đề: hiện tượng biến tướng trong việc tổ chức lễ hội ở một số vùng

2. Giải thích

Biến tướng là làm mất bản chất ban đầu, vốn của sự vật.

=> Hiện nay, một số lễ hội đã không còn giữ được nét đẹp truyền thống vốn của mình, mà bị

biến tướng “mua thần, bán thánh” làm mất đi giá trị vốn của nó.

3. Bàn luận

- Từ nguồn gốc là nơi hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con người, giúp con người nhớ

về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui, lễ hội hiện tại đã

và đang dần bị biến tấu, biến dạng và biến tướng.

- Lễ hội bị sân khấu hóa, được bài trí, biên kịch kĩ lưỡng, mất đi nét đẹp tự nhiên vốn .

- Lễ hội trở thành nơi buôn thần, bán thánh

- Lễ hội trở thành nơi phô trương thanh thế của các địa phương.

- Là nơi buôn bán, chặt chém khách thập phương

- …

=> Lễ hội hiện nay đã bị biến tương, mất đi vẻ đẹp, giá trị ban đầu

- Cần phải những phương hướng khôi phục, trả lại vẻ đẹp nguyên sơ, vốn của mỗi lễ hội

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Thí sinh không sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

- Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, ông chuyên về bút

kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chết trí tuệ và tính trữ

tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về

triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí,… Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê

đắm và tài hoa

- Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí xuất sắc , viết tại Huế, ngày 4 – 1 – 1981, in trong

tập sách cùng tên.

• Phân tích các chi tiết

*Ở thượng nguồn:

- Những chi tiết trên miêu tả sông Hương từ góc nhìn địa lí, trong không gian núi rừng Trường

Sơn

- “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa

Trang 3


óng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực

bí ẩn”: Ở nơi khởi nguồn của dòng chảy, gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, con

sông toát lên vẻ đẹp vừa hùng vừa trữ tình, mang một sức sống mãnh liệt.

- “Có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên

rừng”: Vẻ đẹp hoang dại nhưng quyến rũ, tình tứ của sông Hương

- Để làm nổi bật nét đặc sắc của sông Hương ở thượng nguồn, tác giả đã sử dụng nghệ thuật so

sánh

*Khi về đến thành phố:

- “sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”: bắt

đầu đi vào thành phố, sông Hương như nhận ra mình đã tìm đúng đường về, dòng sông như vui

tươi hẳn lên

- “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông

mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”: người gái đẹp sông Hương làm

dáng lần cuối cùng trước khi chảy vào giữa lòng thành phố thân yêu, trước khi đến với người

tình nhân đích thực

=> sông Hương như một người tình vui tươi và duyên dáng

- “Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”:

+ Chi tiết miêu tả hình ảnh sông Hương trong lòng thành phố

+ Nhà văn đã rất tinh tế khi nhận ra đặc điểm riêng của sông Hương là lưu tốc rất chậm, nhà văn

đã lí giải từ nhiều góc nhìn khác nhau:

++ Từ đặc điểm địa lí tự nhiên: những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm

giảm hẳn lưu tốc của dòng nước

++ Từ lí lẽ của trái tim thì “điệu chảy lặng lờ”, “ngập ngừng muốn đi muốn ở” của sông Hương

là do tình cảm dành riêng cho Huế, do quá yêu thành phố của mình, do muốn được nhìn ngắm

nhiều hơn nữa thành phố thân thương trước khi phải rời xa.

- “Sông Hương trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”:

+ Tác giả nhìn sông Hương dưới góc nhìn văn hóa

+ Dòng sông âm nhạc, đây cũng là nét riêng không thể lẫn của sông Hương với các dòng sông

khác của đất nước.

• Nhận xét nghệ thuật miêu tả

- Nhà văn đã phối hợp kết hợp linh hoạt giữa kể và tả sử dụng tài hoa các biện pháp tu từ nghệ

thuật như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ.

- Hình ảnh đa dạng, phong phú, giàu giá trị gợi hình, biểu cảm

- Ngôn ngữ trong thiên tùy bút trong sáng, tinh tế, giàu hình ảnh, nhạc điệu đậm chất trữ tình.

Ngôn ngữ văn xuôi đẹp mà truyền cả, chẳng khác gì thơ ca. thậm chí những câu, đoạn thơ hơn

hiều bài thơ mà ta đã đọc đâu đó.

- Giọng điệu biến hóa linh hoạt, uyển chuyển, giàu nhịp điệu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT Chuyên

Vĩnh Phúc

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

ĐỀ THI LẦN 3

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

KHI CÔ ĐƠN TRỞ THÀNH VẤN NẠN QUỐC GIA:

NƯỚC ANH LẦN ĐẦU TIÊN CÓ BỘ TRƯỞNG BỘ CÔ ĐƠN

Khoa học chứng minh, sự cô đơn thể giết chết một con người. Nhằm giải quyết các vấn đề liên quan

tới tình trạng sống cô độc của hơn 1/10 cư dân, nước Anh đã bổ nhiệm một Bộ trưởng chuyên trách.

…Các số liệu thống kê của chính phủ Anh cho thấy, phần lớn những người trên 75 tuổi ở Anh hiện sống

một mình, và khoảng 200.000 người trong số họ không thể trò chuyện với bạn bè hay người thân nào

trong hơn một tháng.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Theo tổ chức Campaign to End Loneliness (Chiến dịch chấm dứt cô đơn), hầu hết các bác sĩ tại Anh nhận

thấy rằng, mỗi ngày khoảng 1-5 người bệnh tới khám bệnh chủ yếu vì họ cô đơn và muốn trò chuyện

với ai đó.

Thực tế, tình trạng cô đơn diễn ra ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Hiện nay, nhiều quốc gia trên khắp thế

giới đang phải đối mặt với “bệnh dịch cô đơn”. Trong cuộc sống hiện đại, ngày càng nhiều người lựa

chọn sống một mình, trì hoãn không kết hôn và thu mình lại trong chiếc điện thoại thông minh. Không chỉ

ở Anh, tỷ lệ những người sống cô đởn Mỹ và nhiều đất nước khác đang tăng lên với tốc độ “tên lửa”.

…Ở Nhật Bản, trái với hình ảnh của thế hệ trẻ đầy sức sống và vui tươi, người ta thể bắt gặp hình ảnh

những người trẻ ngủ gục ở bất cứ nơi đâu từ văn phòng làm việc tới những nơi công cộng như ga tàu điện

Trang 1


ngầm. Áp lực của cuộc sống hiện đại khiến người ta trở nên lạc lõng, cô đơn và không thể tìm được sự kết

nối, chia sẻ với người khác.

Hoài Thu

Theo Nhịp sống kinh tế

Câu 1: Nhận biết

Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích.

Câu 2: Nhận biết

Nêu những biểu hiện của sự cô đơn được chỉ ra trong đoạn trích.

Câu 3: Thông hiểu

(Nguồn: http://nuocanh.info/2018/09/10khi-co-don-tro-thanh-mot-van-nan-quoc-gia-nuoc-anh-lan-dautien-co-bo-truong-bo-co-don/)

Tại sao tác giả cho rằng: “Áp lực của cuộc sống hiện đại khiến người ta trở nên lạc lõng, cô đơn và không

thể tìm được sự kết nối, chia sẻ với người khác”?

Câu 4: Thông hiểu

Chi tiết nào trong đoạn trích trên gây ấn tượng nhất với anh/chị? Vì sao?

II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm) Vận dụng cao

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói lên suy nghĩ của anh/chị về “bệnh dịch cô đơn” đang diễn ra trong

cuộc sống hiện đại.

Câu 2: (5,0 điểm) Vận dụng cao

Bàn về kết thúc đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài (Ngữ Văn 12 Tập hai, NXB Giáo dục

2008), ý kiến cho rằng: Hành động cắt nút dây mây cởi trói cho A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân

vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước; lại người khẳng định: Đó là một kết thúc tự

nhiên, tất yếu.

Bằng hiểu biết về tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

Câu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nội dung

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: Căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học

Cách giải:

- Phong cách ngôn ngữ: Báo chí

2.

Phương pháp: Căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Biểu hiện:

- Nhiều người lựa chọn sống một mình.

- Trì hoãn không kết hôn

- Thu mình lại trong chiếc điện thoại thông minh

Trang 2


Làm văn

3.

Phương pháp: Phân tích, lí giải

Cách giải:

- Do làm việc quá nhiều giờ, không thời gian cho mình và mọi người xung quanh

4.

Phương pháp: Phân tích, lí giải

Cách giải:

Học sinh lựa chọn chi tiết gây ấn tượng với bản thân, đưa ra lờigiải hợp lí.

Gợi ý:

- Con số 200.000 người 1-5 người khiến bản thân ấn tượng. Bởi con số này đã cho thấy sự cô

đơn ở con người đã thực sự trở thành đại dịch. Bản thân mỗi chúng ta cần những biện pháp để

đẩy lùi nó.

1 Phương pháp: Phân tích,tổng hợp

Cách giải:

* Giới thiệu chung

* Giải thích

- Cô đơn là trạng thái chỉ một mình, không sống chung với ngưởi khác, không thể chia sẻ cảm

xúc, nỗi niềm với những người xung quanh

=> Cô đơn ngày một lan rộng trên toàn thế giới

* Bàn luận vấn đề

- Biểu hiện sự cô đơn

+ Thích sống một mình.

+ Không thích giao lưu, nói chuyện với người khác.

+ ….

- Tác hại của sự cô đơn:

+ Cô đơn lâu ngày không người sẻ chia cảm xúc sẽ khiến con người trầm cảm

+ Cô đơn dẫn đến các mối quan hệ nhạt nhòa


- Chúng ta cần tăng cường các mối quan hệ xã hôi, tăng cường kết nối với mọi người. Giao lưu

chia sẻ cảm xúc để gắn kết bản thân với cộng đồng, xã hội

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp: Phân tích,tổng hợp

Cách giải:

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, là

nhà văn biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của những

miền đất mà ông đã đi qua. Ông giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất duyên và đầy sức hấp

dẫn; vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập

truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Tập Truyện Tây

Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, viết về dân tộc Thái; Cứu đất cứu mường, viết về dân tộc

Mường; Vợ chồng A Phủ, viết về dân tộc Mèo (Mông) – mỗi truyện một dáng vẻ, sức hấp dẫn

riêng, nhưng đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc là truyện Vợ chồng A Phủ.

- Bàn về kết thúc đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài (Ngữ Văn 12 Tập hai, NXB

Giáo dục 2008), ý kiến cho rằng: Hành động cắt nút dây mây cởi trói cho A Phủ rồi chạy theo

A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước; lại người khẳng định:

Đó là một kết thúc tự nhiên, tất yếu.

• Giải thích ý kiến

-Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân

vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng

A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất

yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh

sáng cho mình.

• Phân tích, chứng minh

– Hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất

ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước:

+ Trong tác phẩm, Mị và A Phủ cùng là nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra, song họ không quan

hệ tình cảm gì cụ thể.

+ Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí, gần như tê liệt hoàn toàn về ý thức, chỉ còn như con

trâu, con ngựa. + Trong hoàn cảnh A Phủ bị trói đứng đến gần chết, Mị vẫn thờ ơ đến mức như

vô cảm trước nỗi khổ của A Phủ.

Không ai thể ngờ rằng, người con dâu bất hạnh và câm lặng ấy lại đột ngột cắt nút dây

mây cởi trói cho A Phủ rồi chạy trốn theo anh. Đây là hành động hoàn toàn không hề sự

chuẩn bị, tính toán từ trước.

– Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: Đặt trong sự phát triển tính cách của hình tượng Mị thì

đây lại là một hành động tự nhiên, tất yếu. Bởi lẽ:

+ Mị là cô gái ham sống, yêu đời, yêu tự do, khát khao hạnh phúc.

+ Sức sống tiềm tàng mãnh liệt ở Mị dù bị vùi dập đến kiệt cùng vẫn không lụi tắt. Đêm tình

mùa xuân là minh chứng rõ nét cho sức sống ấy.

+ Mặt khác, Mị vốn là cô gái giàu tình thương, vị tha, biết nghĩ, biết hi sinh cho người khác.

Nhìn thấy hoàn cảnh của A Phủ, Mị ừ cõi quên trở về cõi nhớ, nhớ về kí ức đau khổ -> thương

mình -> thương người. Mị từ cõi vô thức dần sống lại ý thức, nhận ra dấu hiệu về cái chết ->

càng thương hơn -> thương người lấn át cả thương thân. Mị hốt hoảng, sợ hãi -> thúc đẩy bản

năng tự vệ tích cực của Mị -> Mị vùng chạy theo A Phủ.

=> Hành động của Mị là kết quả tất yếu của sự bóc lột, đàn áp tàn nhẫn của cha con thống lí nói

riêng, tầng lớp phong kiến miền núi cao Tây Bắc nói chung đối với những người lao động nghèo.

Hành động ấy chứng tỏ sức phản kháng mãnh liệt, khả năng hướng về cách mạng một cách tự

nhiên của người dân Tây Bắc.

• Bình luận, đánh giá chung

Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài

năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, thể hiện tấm lòng

nhân đạo cao cả của và lòng thương cảm sâu sắc của tác giả dành cho những con người nơi đây.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

HÀ NỘI

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

ĐỌC HIỂU

Các khu xử lý rác thải ở Đà Nẵng, Huế đang quá tải; còn hai bãi rác chôn lấp ở thành phố Hạ Long thì

đóng cửa vì ô nhiễm. Hà Nội mới trải qua một cuộc khủng hoảng khi người dân sống gần bãi rác chặn xe

đổ rác vào vùng họ sống. Quảng Ngãi, Hà Tĩnh cũng đã những cuộc gặp căng thẳng giữa chính quyền

và người dân về bãi rác chôn lấp gây ô nhiễm.

Giải pháp "đối thoại" giữa nhân dân và chính quyền sẽ không bao giờ giải quyết triệt để được vấn đề, nếu

cách xử lý rác chủ đạo vẫn là chôn lấp. Chỉ một cách, nhưng Việt Nam chưa bắt đầu.

Khi mới dọn đến thành phố tây nam nước Pháp, tôi thấy lá thư "mời" ra phường nhận túi đựng rác. Thư

nhắc nhở: "khi đi nhớ mang theo thẻ cư trú và một hóa đơn điện hoặc nước để chứng minh chỗ ở".

Khi tới nơi, tôi thấy khá nhiều người đã xếp hàng. Trong lúc chờ đợi, trò chuyện, tôi mới biết rằng hàng

năm thành phố hai đợt phát túi đựng rác cho dân. Chính quyền khuyến khích mọi người phân loại rác

bằng cách tặng họ loại túi màu đen và màu vàng, dành cho rác tái chế và không tái chế, đủ dùng cả năm.

Rồi gia đình tôi chuyển từ căn hộ chung cư xuống nhà đất. Chính quyền tặng thêm hai thùng đựng rác

miễn phí bằng nhựa. Một thùng đựng rác thường và một thùng đựng rác tái chế, mỗi thùng cỡ 240 lít. Vì

nhà vườn nên chúng tôi còn được nhận thêm một thùng sử dụng để làm phân hữu cơ từ rác nhà bếp.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Các loại rác được nhân viên vệ sinh thu gom vào ngày khác nhau. Và được quy hoạch theo những địa

điểm tập kết khác nhau. Rác tái chế như đồ nhựa, bìa giấy và rác bẩn được thu dọn tại nhà; thùng nhận

quần áo cũ được đặt rải rác khắp thành phố; đồ đạc cũ như bàn ghế, tủ, tivi, tủ lạnh bãi phế liệu riêng;

rác vườn lại được quy định tập kết ở khu khác. Đặc biệt, siêu thị nào cũng thùng nhận các loại pin và

bóng đèn cũ - loại rác cần xử lý đặc biệt.

Người dân Pháp, từ bọn trẻ đi học, cũng thể nhắc lại cho bố mẹ rằng lối sống của con người ảnh hưởng

tới môi trường, trái đất, hệ sinh thái, tác động trực tiếp tới sức khỏe của chính mình và thế hệ sau. Việc

tuân thủ phân loại rác thải một cách nghiêm túc, hoặc cao hơn là hạn chế thải rác, vừa hạn chế khối lượng

rác sinh ra vừa thúc đẩy việc tái chế.

Khi đi mua bánh mì, họ thường mang theo một túi giấy dùng rồi đựng bánh, để người bán hàng không

cần đưa thêm túi mới. Họ dùng nó đến khi rách mới thôi. Ý thức như vậy không đơn giản bởi họ "sợ"

Trang 1


khoản tiền phạt treo lơ lửng nếu vi phạm, nhẹ là 35-75 Euro, nặng là 150-450 Euro. Thái độ nghiêm túc

trách nhiệm với môi trường đã thành văn hóa từ lâu, và gia đình tôi cũng thấm lối sống đó rất tự

nhiên.

Nhiều người Việt Nam vẫn nghĩ rằng, ốc còn chưa lo nổi mình ốc, hơi đâu lo hộ toàn thiên hạ. Hay là,

bao nhiêu năm qua Việt Nam không phân loại rác mà vẫn sống tốt đấy thôi, sao đâu. Nhưng đồng thời,

họ không ngừng phàn nàn, thành phố bẩn quá, sao mùa hè càng lúc càng nóng, mùa đông lạnh bất

thường, thời tiết càng ngày càng "giở chứng". Một số báo cáo khoa học cho biết, 2016 là năm khí hậu

toàn cầu nóng nhất kể từ năm 1880, và là năm thứ ba nhiệt độ trái đất tăng liên tiếp. Nếu con người tiếp

tục tạo ra khí nhà kính, nhiệt độ thể tăng thêm 6 độ C trong thế kỷ này. Tới năm 2030, nạn lũ lụt sẽ

tăng lên gấp ba về quy mô và gấp nhiều lần về mức thiệt hại.

Số liệu từ Diễn đàn kinh tế thế giới: Đức dẫn đầu trong danh sách các quốc gia thực hiện tái chế rác của

dân chúng, theo sau là Áo, Hàn Quốc và xứ Wales. Bốn quốc gia này đã tái chế thành công từ 52%-56%

rác thải mỗi năm. Vậy mà tại Việt Nam, chúng ta vẫn còn loay hoay với câu hỏi nên phân loại rác hay

không, nếu thực hiện khả thi hay không.

Một túi nylon mất hơn 100 năm để phân hủy hoàn toàn, một chai nhựa cần gần 500 năm, còn một chai

thủy tinh sẽ cần hơn 4.000 năm. Nếu những chai nhựa và thủy tinh được tái chế, chúng ta đã góp phần

hạn chế rất lớn rác thải chôn lấp, tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng sản xuất những sản phẩm mới, tạo

thêm công ăn việc làm trong những xưởng tái chế. Và trên hết, ta đã đảm bảo một tương lai bền vững cho

con cháu mình. Người ta đã tính toán, nếu toàn bộ số báo giấy ở nước Mỹ được tái chế, họ cứu được 250

triệu cây xanh mỗi năm. Với Việt Nam, tôi tin con số này là rất nhiều khu rừng.

Quay trở lại câu hỏi về phân loại rác ở Việt Nam. Nó hoàn toàn khả thi nếu như người dân được hướng

dẫn kỹ lưỡng thông tin để thay đổi nhận thức qua các kênh từ trực tiếp tới online chứ không chỉ hô hào

cho . Ngay tại nhiều chung cư cao cấp ở Hà Nội, mặc dù ban quản lý đã tích cực kêu gọi phân loại rác,

trang bị đầy đủ mấy loại thùng rác, nhưng người dân vẫn không thực hiện. Họ đưa ra nhiều lý do: không

biết phân loại thế nào, không thói quen ấy, chẳng thấy ai làm cả, để làm gì...

Nỗ lực phân loại rác tại Việt Nam hồi đầu thế kỷ đã thất bại, và trở thành câu chuyện con gà quả trứng:

người dân giờ nhìn thấy chính quyền cho tất cả lên một xe chứa rác lớn, và tin rằng việc mình tự phân loại

là vô nghĩa; chính quyền cũng không phân loại xe chứa rác làm gì khi người dân không phân loại từ đầu

nguồn; và vì không phân loại tại nguồn, công nghệ xử lý rác thải đi theo thực trạng để mãi dừng lại ở...

chôn lấp.

Trong một nhận thức đúng đắn về môi trường, thì việc không phân loại rác là một tội. Nó khiến hành vi

đổ rác trở thành vô nghĩa. Em trai tôi đã trải nghiệm một hình phạt ở Anh. Một số bạn người Việt cùng

nhà không tuân thủ quy tắc phân loại rác của thành phố, bỏ tất vào một túi. Kết quả là họ phải sống chung

với rác suốt hai tuần vì bị cơ quan vệ sinh từ chối phục vụ. Từ đó về sau, không ai còn dám tái phạm.

Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu một việc đúng đắn với quốc gia.

Câu 1: Nhận biết

Xác định thao tác lập luận được sử dụng hiệu quả nhất trong văn bản.

Câu 2: Nhận biết

(Ngô Thị Phương Lê, Khủng hoảng rác. Vnexpress, 19/2/2019)

Trong bài viết, người viết đã cảnh báo nguy cơ nào mà con người Việt Nam và thế giới hiện đại đang phải

đối mặt?

Câu 3: Nhận biết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


Theo tác giả bài viết, việc phân loại rác thải và tái chế rác thải đem lại những lợi ích lớn lao và bền vững

nào?

Câu 4: Thông hiểu

“Trong một nhận thức đứng đắn về môi trường, thì việc không phân loại rác là một tội”. Anh/chị đồng

tình với quan điểm này không? Vì sao?

Phần II. Làm văn

Câu 1: Vận dụng cao

Từ bài viết trên, anh/chị thấy bản thân mình cần phải làm gì để phát huy lợi ích to lớn và bền vững của

việc phân loại rác và tái chế rác.

Hãy trình bày ý kiến của mình trong đoạn văn khoảng 200 từ.

Câu 2: Vận dụng cao

Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Ngữ Văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam) hai

sự kiện đánh dấu bước ngoặt cuộc đời, số phận của nhân vật Mỵ: Sự kiện Mỵ bị bắt về làm dâu gạt nợ

cho nhà thống lý Pá Tra và sự kiện Mỵ cắt dây trói cứu A Phủ.

Anh/chị hãy phân tích hai sự kiện đó. Nhận xét vai trò, ý nghĩa của các sự kiện này trong việc thể hiện giá

trị nội dung, tu tưởng của tác phẩm.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


Câu

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nội dung

Đọc hiểu Câu 1:

Phương pháp: căn cứ các thao tác lập luận đã học

Cách giải:

- Thao tác lập luận được sử dụng hiểu quả nhất: so sánh

Câu 2:

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn văn

Cách giải:

Nguy cơ người Việt Nam và thế giới phải đối mặt:

- Thành phố quá bẩn, mùa hè ngày càng nóng, mùa đông lạnh bất thường, thời tiết ngày càng

“giở chứng”.

- Khí hậu năm 2016 nóng nhất kể từ 1880 và là năm thứ ba nhiệt độ trái đất tăng liêp tiếp.

Nếu con người tiếp tục tạo ra khí nhà kính, nhiệt độ thể tăng thêm 6 độ C trong thế kỉ này.

Tới năm 2030, nạn lũ lụt sẽ tăng lên gấp ba về quy mô và gấp nhiều lần về mức độ thiệt hại.

Làm văn

Câu 3:

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn văn

Cách giải:

Lợi ích phân loại rác:

- Việc tuân thủy phân loại rác thải một cách nghiêm túc, hoặc cao hơn là hạn chế thải tác vừa

hạn chế khối lượng tác sinh ra vừa thúc đẩy việc tái chế.

- Nếu những chai nhựa và thủy tinh được tái chế, chúng ta đã góp phần hạn chế rất lớn tác

thải chôn lấp, tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng sản xuất những sản phẩm mới, tạo them

công ăn việc làm trong những xưởng tái chế.

- Đảm bảo tương lai bền vững cho con cháu mình.

- Nếu tái chế toàn bộ giấy ở Mĩ thể cứu được 250 triệu cây xanh mỗi năm.

Câu 4:

Phương pháp: phân tích, lý giải

Cách giải:

- Đồng tình với quan điểm trên

- Vì: Không phân loại rác thải được coi là một “tội” bởi đó là cái tội không ý thức được tầm

quan trọng của việc phân loại rác ý nghĩa to lớn trong việc xử lí và tái chế rác thải. Từ đó

cũng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của mỗi chúng ta và thế hệ

tương lai.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

* Giới thiệu vấn đề: vai trò của bản thân để phát huy việc phân loại và tái chế rác thải

* Bàn luận vấn đề

- Thải rác bừa bãi, không phân loại làm ảnh hưởng đến môi trường sống đang là vấn nạn của

nhiều nước trên thế giới trong đó Việt Nam.

- Phân loại và tái chế rác thải ngày càng trở nên cần thiết hơn đối với cuộc sống của chúng

ta.

- Vai trò của bản thân đối với phát huy việc phân loại và tái chế rác thải:

+ Bản thân mỗi người vai trò quan trọng đối với việc phân loại rác thải. Bởi ý thức chung

của xã hội xuất phát từ chính bản thân mỗi người. Chỉ khi bản thân chúng ta ý thức thực

hiện phân loại và tái chế rác thải thì việc làm này mới tính khả thi.

+ Việc phân loại và tái chế rác thải thực hiện từ các cá nhân sẽ ảnh hưởng tích cực đến

Trang 4


những người xung quanh, sau lan dần ra cộng đồng xã hội.

+ Bản thân mỗi người cần ý thức tầm quan trọng của việc phân loại rác thải và kêu gọi mọi

người cùng tham gia thực hiện.

- Phê phán những suy nghĩ, hành động cho rằng việc phân loại rác thải và tái chế là việc làm

thừa thãi.

- Bản thân mỗi người cần thái độ và hành động quyết liệt trong vấn đề phân loại và xử lí

rác thải. Nó không chỉ ý nghĩa với hiện tại mà còn là hành động bảo vệ môi trường sống

cho thế hệ

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam,

là nhà văn biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của

những miền đất mà ông đã đi qua. Ông giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất duyên và

đầy sức hấp dẫn; vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập

truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Tập Truyện

Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, viết về dân tộc Thái; Cứu đất cứu mường, viết về dân

tộc Mường; Vợ chồng A Phủ, viết về dân tộc Mèo (Mông) – mỗi truyện một dáng vẻ, sức

hấp dẫn riêng, nhưng đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc là truyện Vợ chồng A

Phủ.

• Giới thiệu nhân vật

- Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” -> nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.

- Tài năng: thổi sáo, thổi lá. Hay đến mức biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi

theo Mị.

- Phẩm chất tốt đẹp: Khi bố mẹ Mị hết đời chưa trả được món nợ cho thống lí Pá Tra, thống

lí Pá Tra định bắt Mị về làm con dâu gạt nợ:

+ Hiếu thảo:“ Con sẽ làm nương ngô giả nợ thay cho bố”

+ Tự tin vào khả năng lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô”

+ Khao khát tự do: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”

-> Xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại bị xã hội của tiền quyền, cường quyền và

thần quyền vùi dập, đẩy vào ngã rẽ tăm tối.

• Phân tích hai sự kiện

❖ Sự kiện 1: Mị bị bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra

- Nguyên nhân:

+ Do món nợ truyền kiếp: bố Mị vay tiền của bố thống lí Pá Tra.

+ Vì Mị bị A Sử lừa bắt về do hủ tục cướp vợ của người dân tộc thiểu số.

Thân phận bi kịch bắt đầu từ đây

* Khi mới về làm dâu:

- Xuất hiện ý thức phản kháng:

+ “Có đến mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc” -> phản kháng yếu ớt.

+ Muốn tự tử -> phản kháng mạnh mẽ.

* Khi làm dâu đã quen:

- Nỗi khổ về thể xác:

+ Thời gian của Mị chỉ được tính bằng công việc, các công việc nối tiếp nhau, việc này

chồng lên việc kia. Mị trở thành một cỗ máy, công cụ lao động, mất hết ý niệm về thời gian.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


+ Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa; thậm chí còn không bằng con trâu con ngựa.

- Nỗi khổ về tinh thần:

+ Thể hiện qua những câu văn tả thực trầm buồn mở đầu tác phẩm: “Ai cố việc ở xa về…”,

“lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

+ Biện pháp so sánh: Mị - con trâu, con ngựa; Mị - con rùa lùi lũi nuôi trong xó cửa. -> vật

hóa nặng nề.

+ Hình ảnh ẩn dụ: căn buồng Mị ở “kín mít, chỉ một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, lúc

nào nhìn ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng” -> giống như

ngục thất giam cầm cuộc đời Mị, giống như nấm mồ chôn vùi tuổi thanh xuân, chôn vùi

hạnh phúc của Mị.

Giá trị hiện thực và nhân đạo:

- Giá trị hiện thực : Phơi bày thực trạng xã hội phong kiến miền núi lúc bấy giờ.

- Giá trị nhân đạo:

+ Bày tỏ sự đồng cảm, xót thương cho những số phận dưới ách thống trị của bọn phong kiến

miền núi.

+ Lên án, phê phán những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của con người.

❖ Sự kiện 2: Mị cắt dây trói cứu A Phủ

* Tình huống gặp gỡ giữa Mị và A Phủ

- A Phủ: trong khi đi chăn bò cho nhà thống lí Pá Tra do mải bẫy nhím nên để hổ vồ mất một

con bò -> bị trói đứng.

- Mị: Sau đêm tình mùa xuân Mị rơi vào trạng thái tê liệt về tinh thần. Hàng đêm ngồi cạnh

bếp lửa (cạnh chỗ A Phủ bị trói) hơ tay hơ chân.

-> Hai người gặp gỡ nhau.

* Sự thức tỉnh của Mị:

- Nguyên nhân:

+ Giọt nước mắt A Phủ “giọt nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”.

- Diễn biến tâm trạng:

+ Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ, nhớ về kí ức đau khổ -> thương mình -> thương người.

+ Mị từ cõi vô thức dần sống lại ý thức, nhận ra dấu hiệu về cái chết -> càng thương hơn ->

thương người lấn át cả thương thân -> Hành động cắt dây cởi trói.

+ Mị hốt hoảng, sợ hãi -> thúc đẩy bản năng tự vệ tích cực của Mị -> Mị vùng chạy theo A

Phủ.

Giá trị nội dung:

- Giá trị hiện thực:

+ Phơi bày, phản ánh một cách chân thực số phận cực khổ của người dân lao động Tây Bắc

dưới ách áp bức của giai cấp thống trị miền núi.

- Giá trị nhân đạo:

+ Đồng cảm, xót thương với số phận khổ đau của nhân vật Mị dưới ách áp bức của giai cấp

thống trị miền núi.

+ Lên án, phê phán mạnh mẽ giai cấp thống trị miền núi đã đẩy con người vào tình cảnh

khốn cùng.

+ Phát hiện, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của tâm hồn Mị: sức sống tiềm tàng trong đêm tình

mùa xuân và sức sống mạnh mẽ trong đêm mùa đông.

+ Tìm hướng giải thoát cho cuộc đời nhân vật: dũng cảm đứng lên chống lại cường quyền,

tiền quyền, thần quyền để giải phóng bản thân; tham gia du kích.

• Nhận xét về vai trò của các sự kiện này trong việc thể hiện giá trị nội dung, tư tưởng của

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 6


tác phẩm:

- Các sự kiện không chỉ lột tả chân thực nhân vật mà còn giúp người đọc hình dung rõ nét

chân dung người lao động miền núi trước Cách mạng.

- Sự kiện thể hiện nhân sinh quan của tác giả về con người và xã hội.

- Hai sự kiện trên còn thể hiện biệt tài của tác giả trong việc nắm bắt các vấn đề cốt yếu, để

từ đó bộc lộ tính cách cũng như số phận của nhân vật.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 7


TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

THPT CHUYÊN

ĐỀ THI LẦN 1

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU

Celine Dion – một trong những nữ ca sĩ diva nổi tiếng nhất thế giới trong một cuộc phỏng vấn trên truyền

hình, khi được hỏi về nguồn gốc thành công trong việc ra đời lien tiếp những album số phát hành hàng

triệu bản – đã rất tự tin trả lời rằng cô không hề bất ngờ vì từ khi mới lên năm tuổi, cô đã đam mê với ca

hát và đã tưởng tượng được sự thành công của mình. Cô đã nhìn thấy trước viễn cảnh, con đường đi đến

vinh quang cùng sự thành đạt đó. Celine Dion không hề tỏ ra kiêu kì khi phát biểu như vậy vì tất cả chúng

ta đều biết, để được vinh quang đó, ngoài tài năng, cô đã phải nỗ lực không ngừng. Cô biết nắm bắt

sức mạnh của trí tưởng tượng, của ước mơ và hình dung thật sự những gì mà mình mong ước và quyết

tâm theo đuổi.

Một số vận động viên thể thao nổi tiếng trên thế giới cũng vận dụng sức mạnh của trí tưởng tượng để hình

dung ra chính xác những gì mà họ sẽ thể hiện khi thi đấu hay biểu diễn. Sức mạnh của trí tưởng tượng

không phải chỉ cần cho các ca sĩ, vận động viên hay diễn viên mà mọi chúng ta đều cần. Nhưng điều tạo

nên sự khác biệt chính là khả năng nắm bắt và vận dụng sức mạnh ấy.

Trí tưởng tượng là khả năng tạo ra những hình ảnh trong tinh thần hay nội tâm. Tâm trí của chúng ta lưu

giữ hình ảnh về mơ ước, những khát vọng, các mối quan hệ xã hội,hay cụ thể hơn, một bóng hình, một

ánh mắt đưa tâm hồn bạn về một tình yêu thật đẹp, một thành công trong công việc bạn từng ao ước, một

công việc mà bạn từng ước ao được làm, khoản thu nhập mà bạn muốn … Những hình ảnh này được

hình thành và lưu giữ trong tâm trí ngay từ khi chúng ta vừa chớm nhận biết cuộc sống xung quanh. Tuổi

niên thiếu cho đến lúc trưởng thành thường là giai đoạn quan trọng nhất để hình thành nên tính cách, ước

mơ. Thuở thiếu thời, nếu chúng ta thường bị người lớn phê bình, chỉ trích hoặc nếu như ta tự ti, coi

thường bản thân mình, tự xem mình luôn là bản sao của người khác, tư tưởng chúng ta sẽ ghi nhận một

cách vô thức những hình ảnh cùng cảm nhận của ta về các sự kiện đó. Giai đoạn đó nếu ta luôn ước mơ

và hướng theo những cảm xúc, hoài bão tốt đẹp thì chắc chắn sau này bạn sẽ sự thôi thúc thực hiện

điều đó. Vì vậy, mọi hành động của chúng ta trong tương lai được coi là đa phần ảnh hưởng bởi bản sao,

dấu ấn của những tư tưởng ban đầu.

(Thay thái độ đổi cuộc đời – Jeff Keller – NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Thông hiểu

Văn bản trên tập trung bàn về vấn đề gì?

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 1


Câu 2: Nhận biết

Dựa vào văn bản, anh/chị hãy chỉ ra các yếu tố tạo nên sự thành công của nữ ca sĩ.

Câu 3: Thông hiểu

Vì sao tác giả cho rằng: “Mọi hành động của chúng ta trong tương lai được coi là đa phần ảnh hưởng bởi

bản sao, dấu ấn của những tư tưởng ban đầu” từ thuở thiếu thời? Điều đó ý nghĩa như thế nào trong

việc lựa chọn cách sống của anh/chị?

Câu 4: Thông hiểu

Anh/chị đồng tình với quan điểm mà tác giả đặt ra trong văn bản: “Sức mạnh của trí tưởng tượng tuy

cần thiết nhưng điều tạo nên sự khác biệt chính là khả năng năm bắt và vận dụng sức mạnh ấy”?

II. LÀM VĂN

Câu 1: Vận dụng cao

Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ với chủ đề: sức mạnh của

trí tưởng tượng.

Câu 2: Vận dụng cao

Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn tô Hoài đã miêu tả tâm lí của nhân vật Mị sau khi bị bắt về

làm dâu nhà thống lí Pá Tra: “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì mị tưởng mình cũng là

con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác,

ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ

đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt”. Và ở đêm tình mùa xuân: “Mị đến góc nhà,

lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sao. Mị muốn

đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách”.

Anh/chị hãy phân tích hình ảnh Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật

này.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


Câu

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nội dung

Đọc hiểu Câu 1:

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

- Nội dung: sức mạnh của trí tưởng tượng, ước mơ đối với tương lai mỗi người

Câu 2:

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

Các yếu tố tạo nên sự thành công của nữ ca sĩ:

- Cô đam mê ca hát và đã tưởng tượng đến sự thành công của mình.

- Cô đã nỗ lực không ngừng để đạt thành công.

- Cô biết nắm bắt sức mạnh của trí tưởng tượng, của ước mơ và hình dung thật sự những gì

mà mình mong ước và quyết tâm theo đuổi.

Câu 3:

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích, phân tích

Cách giải:

- Tác giả cho vậy là bởi: Trí tưởng tượng là khả năng tạo ra những hình ảnh trong tinh thần

hay nội tâm. Tâm trí của chúng ta lưu giữ hình ảnh về mơ ước, những khát vọng, các mối

quan hệ xã hội,… Những hình ảnh này được hình thành và lưu giữ trong tâm trí ngay từ khi

chúng ta vừa chớm nhận biết cuộc sống xung quanh. Vì vậy, mọi hành động của chúng ta

trong tương lai được coi là đa phần ảnh hưởng bởi bản sao, dấu ấn của những tư tưởng ban

đầu.

- Chúng ta cần thái độ sống tích cực, mơ ước, hoài bão cao đẹp ngay từ thuở thiếu thời,

đó sẽ là nền tảng, động cơ để ta vươn đến thành công trong tương lai.

Câu 4:

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

- Đồng ý với quan điểm của tác giả.

Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

* Giới thiệu vấn đề: sức mạnh của trí tưởng tượng

* Giải thích

- Trí tưởng tưởng là những hình dung, lien tưởng về những điều chưa xảy ra ở tương lai.

=> Trí tưởng tượng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự thành công của mỗi người trong

tương lai.

* Bàn luận vấn đề

- Vai trò của trí tưởng tượng:

+ Chỉ con người mới trí tưởng tượng và nhờ trí tưởng tượng con người đã phát minh ra vô

vàn những sản phẩm giá trí.

+ Trí tưởng tượng là động lực thôi thúc con người hành động để vươn đến ước mơ.

+ Trí tưởng tượng giúp con người tìm ra lối thoát trong hoàn cảnh vấn đề, khi gặp khó

khăn.

+….

- Cần phân biệt giữa trí tưởng tượng và sự ảo tưởng, bởi ảo tưởng khiến con người xa rời

thực tế, không đem lại những lợi ích thiết thực.

- Trí tưởng tượng bao giờ cùng phải song hành với tri thức và hành động thực tế mới thể

phát

huy hết tác dụng và đạt được mơ ước của bản thân trong tương lai.

- Liên hệ bản thân.

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


Cách giải:

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam,

là nhà văn biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của

những miền đất mà ông đã đi qua. Ông giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất duyên và

đầy sức hấp dẫn; vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập

truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Tập Truyện

Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, viết về dân tộc Thái; Cứu đất cứu mường, viết về dân

tộc Mường; Vợ chồng A Phủ, viết về dân tộc Mèo (Mông) – mỗi truyện một dáng vẻ, sức

hấp dẫn riêng, nhưng đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc là truyện Vợ chồng A

Phủ.

• Giới thiệu nhân vật

- Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” -> nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.

- Tài năng: thổi sáo, thổi lá. Hay đến mức biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi

theo Mị.

- Phẩm chất tốt đẹp: Khi bố mẹ Mị hết đời chưa trả được món nợ cho thống lí Pá Tra, thống

lí Pá Tra định bắt Mị về làm con dâu gạt nợ:

+ Hiếu thảo:“ Con sẽ làm nương ngô giả nợ thay cho bố”

+ Tự tin vào khả năng lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô”

+ Khao khát tự do: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”

-> Xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại bị xã hội của tiền quyền, cường quyền và

thần quyền vùi dập, đẩy vào ngã rẽ tăm tối.

• Phân tích hình ảnh Mị trong hai lần trên

▪ Chi tiết 1:

*Vị trí chi tiết: Chi tiết nằm ở phần đầu tác phẩm, khi Mị đã quen dần với việc làm dâu gạt

nợ nhà thống lí Pá Tra. Vì món nợ truyền kiếp của gia đình và tục bắt vợ mà Mị đã trở thành

con dâu gạt nợ nhà thống lí. Khi mới về làm dâu, Mị cũng đã phản kháng, muốn tự tử nhưng

lâu dần ý thức đó bị mất đi.

*Phân tích chi tiết:

- Khi làm dâu đã quen, ý thức phản kháng trong Mị bị vùi lấp đi: “Ở lâu trong cái khổ, Mị

quen khổ rồi” => chấp nhận thân phận con dâu gạt nợ.

- Nỗi khổ thể xác:

+ Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa; thậm chí còn không bằng con trâu con ngựa.

+ Mị mất hoàn toàn ý niệm về thời gian. Thời gian của Mị chỉ được tính bằng công việc, các

công việc nối tiếp nhau, việc này chồng lên việc kia. Mị trở thành cỗ máy, công cụ lao động,

mất hết ý niệm về cuộc sống.

- Nỗi khổ tinh thần:

+ Biện pháp so sánh: Mị - con trâu, con ngựa -> vật hóa nặng nề.

+ Thể hiện qua những câu văn tả thực trầm buồn mở đầu tác phẩm: “Ai cố việc ở xa về…”,

“lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

+ Hình ảnh ẩn dụ: căn buồng Mị ở “kín mít, chỉ một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, lúc

nào nhìn ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng” -> giống như

ngục thất giam cầm cuộc đời Mị, giống như nấm mồ chôn vùi tuổi thanh xuân, chôn vùi

hạnh phúc của Mị.

▪ Chi tiết 2:

*Vị trí: Chi tiết nằm ở phần giữa tác phẩm – Mị trong đêm tình mùa xuân. Trong đêm tình

mùa xuân, với sự tác động của khung cảnh ngày xuân, tiếng sáo và hơi rượu, sức sống tiềm

tàng trong Mị trỗi dậy.

*Phân tích chi tiết:

Trong hơi rượu và tiếng sáo sức sống tiềm tàng lại trỗi dậy:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


- Mị như ở trạng thái mộng du, vượt thoát hoàn cảnh để tìm lại chính mình.

+ Lấy ống mỡ sắn một miếng để thắp đèn lên cho sáng. -> thắp sáng căn buồng cũng là thắp

sáng khát vọng giải thoát cuộc đời mình.

+ “Mị muốn đi chơi”: thức dậy ý thức và khát vọng.

+ Chuẩn bị đi chơi: quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa, rút thêm cái áo.

=> Khao khát được sống, được giao tiếp của Mị đã hồi sinh sau chuỗi ngày bị vật hóa nặng

nề.

• Giá trị của hai chi tiết

- Cho thấy đầy đủ chân dung nhân vật Mị - một cô gái miền núi với khao khát tự do mãnh

liệt

- Góp phần truyền tải đầy đủ tư tưởng, nội dung của tác phẩm mà tác giả muốn gửi gắm:

+ Giá trị hiện thực : Phơi bày thực trạng xã hội phong kiến miền núi lúc bấy giờ.

+ Giá trị nhân đạo:

++ Bày tỏ sự đồng cảm, xót thương cho những số phận dưới ách thống trị của bọn phong

kiến miền núi.

++ Lên án, phê phán những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của con người.

++ Tin tưởng vào bản chất người luôn tiềm tàng trong mỗi con người: khát vọng sống mãnh

liệt.

• Tổng kết

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


SỞ GD&ĐT ĐỒNG THÁP

TRƯỜNG THPT NGUYỄN

QUANG DIÊU

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

Mục tiêu:

Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

- Kiến thức làm văn, tiếng Việt

- Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm.

- Kiến thức đời sống.

Kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu văn bản.

- Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học).

I.ĐỌC HIỂU: (3 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

Bằng những trải nghiệm của bản thân, càng ngày càng nhận rõ ra một chân lí trong cuộc sống là bất cứ

một điều gì vừa phải bao giờ cũng tốt hơn thừa mứa. Nói cách khác, chúng ta nên đón lấy cuộc sống ngay

khi nó đến. Chúng ta đừng đợi một điều gì đó thật đủ đầy rồi mới chịu đón nhận.

Hãy sống một cuộc đời chừng mực. Đừng luôn đợi chờ hay mong muốn hưởng thụ những điều xa xỉ, vì

sẽ không giới hạn nào kiểm soát việc đó. Điều đó tương tự như khi chúng ta làm công việc chăm sóc

và tỉa cành cho cây. Khi cắt đi những nhánh dư thừa cây sẽ tập trung nhựa sống của nó để tạo ra hoa thơm

quả ngọt. Cuộc sống của chúng ta cũng thế. Khi biết loại bỏ những điều không cần thiết, chúng ta thể

tập trung sức lực của mình cho những điều giá trị hơn.

Mỗi người quan niệm lợi ích của việc đơn giản hóa cuộc sống theo một cách khác nhau. Đó thể tạo ra

nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, cuộc sống ít căng thẳng hơn, ít huyên náo hơn, ít nợ nần hơn… Cuộc hành

trình này tuy nhiều đích đến nhưng lại rất nhiều con đường khác nhau để tiến tới mục đích đó.

…Giá trị của cuộc sống không nằm ở lượng vật chất chúng ta đang sở hữu mà nằm ở phần tâm hồn chúng

ta đang . Hãy hướng đến nhu cầu thực sự của bạn trong cuộc sống xem đang thiếu thứ gì đang cần điều

gì để tìm kiếm chúng. Đừng cố gắng chạy theo những giá trị không cần thiết khi bạn không thể. Cuộc đời

là vô tận nhưng luôn những điểm dừng hạnh phúc nếu chúng ta nhận ra”.

Câu 1: Nhận biết

(Trích Điều diệu kì của thái độ sống – Mac Anderson – NXB Tổng hợp TPHCM, 2016)

Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên?

Câu 2: Thông hiểu

Anh/chị hiểu như thế nào là “đón lấy cuộc sống” từ câu nói của tác giả “Chúng ta nên đón lấy cuộc sống

ngay khi nó đến”?

Câu 3: Thông hiểu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 1


Anh/chị đồng tình với ý kiến của tác giả “Giá trị của cuộc sống không nằm ở lượng vật chất chúng ta

đang sở hữu mà nằm ở phần tâm hồn chúng ta đang ”?

Câu 4: Vận dụng

Thông điệp ý nghĩa nhất với anh/chị được rút ra từ văn bản trên? (Trình bày trong một đoạn văn

khoảng 5 đến 7 dòng)?

II.LÀM VĂN

Câu 1: Vận dụng cao

Từ vấn đề được đề cập trong đoạn trích phần Đọc hiểu anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình

bày suy nghĩ về lợi ích của lối sống chừng mực?

Câu 2: Vận dụng cao

Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã hai lần miêu tả sức sống tiềm tàng của nhân vật

Mị. Trong đêm tình mùa xuân “Trong bóng tối Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi

rượu còn nồng nàn. Mị vẫn còn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi những đám chơi. Em không

yêu quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách.”

Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.

Và trong đêm mùa Đông cởi trói cho A Phủ “Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị vụt chạy ra. Trời tối

lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong

hơi gió thốc lạnh buốt:

-A Phủ cho tôi đi.

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

-Ở đây thì chết mất.”

Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị qua hai lần miêu tả trên. Từ đó nhận xét về tư tưởng nhân

đạo tiến bộ của nhà văn Tô Hoài.

(Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014)

Câu

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nội dung

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Đọc hiểu 1.

Phương pháp: căn cứ các phong cách ngôn ngữ đã học

Cách giải:

- Phong cách ngôn ngữ: Chính luận

2.

Phương pháp: phân tích, lý giải

Cách giải:

Có nghĩa là đón nhận những điều cuộc sống mang đến cho bạn dù là buồn đau, vất vả hay

sung sướng, hạnh phúc. Đón nhận mà không trì hoãn.

3.

Phương pháp: phân tích

Trang 2


Làm văn

Cách giải:

- Đồng ý

4.

Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

Học sinh lựa chọn thông điệp ý nghĩa với mình và trình bày đoạn văn 5-7 câu.

- Đơn giản hóa cuộc sống

- Sống chừng mực

- Giá trị của mỗi người nằm ở tâm hồn

- …

Gợi ý:

- Thông điệp: sống chừng mực

- Ý nghĩa lối sống chừng mực:

+ Đón nhận mọi khoảnh khắc cuộc sống, nếm đủ mọi dư vị cay đắng, ngọt bùi cuộc đời.

+ Con người được trưởng thành từ chính những trải nghiệm đó

+ ….

1 Phương pháp: phân tích, lý giải, tổng hợp

Cách giải:

1. Giới thiệu vấn đề

2. Giải thích

- Sống chừng mực là lối sống vừa đủ, không thiếu không thừa, không chờ đợi mà sẵn

sàng đương đầu đón nhận mọi điều cuộc sống mang lại

=> Sống vừa đủ, chừng mực là lối sống tích cực

3. Bàn luận

- Lợi ích của lối sống chừng mực

+ Lối sống chừng mực đem lại hạnh phúc cho con người

+ Đón nhận mọi khoảnh khắc cuộc sống, nếm đủ mọi dư vị cay đắng, ngọt bùi cuộc đời.

+ Con người được trưởng thành từ chính những trải nghiệm đó

+ ….

- Phê phán lối sống hoang phí của một số người.

- Liên hệ bản thân

2 Phương pháp: phân tích, tổng hợp

Cách giải:

▪ Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam,

là nhà văn biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của

những miền đất mà ông đã đi qua. Ông giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất duyên và

đầy sức hấp

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

dẫn; vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập

Trang 3


truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Tập Truyện

Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, viết về dân tộc Thái; Cứu đất cứu mường, viết về dân

tộc Mường; Vợ chồng A Phủ, viết về dân tộc Mèo (Mông) – mỗi truyện một dáng vẻ, sức

hấp dẫn riêng, nhưng đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc là truyện Vợ chồng A

Phủ.

▪ Giới thiệu nhân vật

- Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” -> nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.

- Tài năng: thổi sáo, thổi lá. Hay đến mức biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi

theo Mị.

- Phẩm chất tốt đẹp: Khi bố mẹ Mị hết đời chưa trả được món nợ cho thống lí Pá Tra, thống

lí Pá Tra định bắt Mị về làm con dâu gạt nợ:

+ Hiếu thảo:“ Con sẽ làm nương ngô giả nợ thay cho bố”

+ Tự tin vào khả năng lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô”

+ Khao khát tự do: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”

-> Xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại bị xã hội của tiền quyền, cường quyền và

thần quyền vùi dập, đẩy vào ngã rẽ tăm tối.

• Phân tích hình ảnh Mị trong hai lần trên

▪ Lần miêu tả thứ nhất:

* Vị trí chi tiết: Chi tiết nằm ở phần giữa tác phẩm, trong đêm tình mùa xuân, với sự tác

động của các nhân tố khách quan, sức sống tiềm tàng trong Mị trỗi dậy. Ngay sau đó, A Sử

đã trói đứng Mị vào cột, không cho đi chơi. Mọi hành động vượt thoát thực tại của Mị đã bị

kìm lại.

* Phân tích chi tiết:

- “Trong bóng tối Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng

nàn. Mị vẫn còn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi những đám chơi. Em không

yêu quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào.”: sức sống tiềm tàng vẫn lan tỏa

trong tâm trí của Mị, những câu hát trong hội chơi xuân vẫn văng vẳng bên tai như gọi Mị đi

chơi, như thúc giục Mị hãy sống, hãy vui

-> A Sử chỉ trói được thân xác Mị chứ không trói được ý muốn đi chơi, không trói được khát

vọng, sức sống của Mị.

-> Mị vẫn thả hồn theo tiếng sáo đến với những cuộc chơi.

- “Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị

thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”: sự tĩnh lặng, yên ắng của không gian buổi đêm

đã làm Mị trở về thực tại. Khi về với thực tại Mị đau khổ, xót xa cho thân phận của mình. Tô

Hoài khắc họa thân phận của Mị qua thủ pháp vật hóa và so sánh

->Mị hoàn toàn bị mất tự do, bị chà đạp

▪ Lần miêu tả thứ hai

* Vị trí chi tiết: Nằm ở phần cuối của truyện: Sau khi Mị chứng kiến A Phủ bị trói đứng,

trong lòng Mị trỗi dậy tình thương và trong phút chốc Mị đã cắt dây cởi trói cho A Phủ. Mị

cũng đã vượt thoát và chạy theo A Phủ.

* Phân tích chi tiết:

+ Mị ý thức được hoàn cảnh của bản thân mình: “Ở đây thì chết mất”

+ Sức sống tiềm tàng trỗi dậy và trở thành hành động mạnh mẽ: “vụt chạy ra”, “băng đi”,

“đuổi kịp A Phủ”

=> Hành động của Mị thể hiện sự nhận thức bước đầu của người nông dân miền núi trong

đấu tranh Cách mạng

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


▪ Tư tưởng nhân đạo tiến bộ của nhà văn Tô Hoài

Ngoài việc ngợi ca vẻ đẹp của nhân vật, đồng cảm thương cảm với số phận nhân vật, điểm

tiến bộ trong tư tưởng nhân đạo của ông là đã chỉ ra được lối thoát cho nhân vật của mình.

Từ đây, nhân vật hy vọng vào một tương lai tươi sáng, cuộc sống tốt đẹp hơn.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


SỞ GD&ĐT THÁI BÌNH

TRƯỜNG THPT CHUYÊN

THÁI BÌNH

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2019

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

ĐỀ THI LẦN 3

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản dưới dây bà thực hiện các yêu cầu:

Có câu chuyện kể rằng, một đôi vợ chồng trẻ vừa dọn đến ở trong một khu phố mới. Sáng hôm sau, vào

lúc hai vợ chồng ăn điểm tâm, người vợ thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi.

“Tấm vải bẩn thật” – Cô vợ thốt lên. “Bà ấy không biết giặt, lẽ bà ấy cần một loại xà phòng mới thì sẽ

giặt sạch sẽ hơn”. Người chồng nhìn cảnh ấy nhưng vẫn lặng im. Thế là, vẫn cứ lời bình phẩm ấy thốt ra

từ miệng cô vợ mỗi ngày, sau khi nhìn thấy bà hàng xóm phơi đồ trong sân.

Một tháng sau, vào một buổi sáng, người vợ ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch nên cô

nói với chồng: “Anh nhìn kìa! Bây giờ bà ấy đã biết giặt tấm vải rồi. Ai dạy bà ấy thế nhỉ?” Người chồng

đáp: “Không! Sáng nay anh dậy sớm và đã lau cửa kính nhà mình đấy.”

Thực ra mỗi người trong chúng ta, ai cũng giống như cô vợ trong câu chuyện kia. Chúng ta đang nhìn đời,

nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc, bám dày lớp bụi bặm của thành kiến và

những kinh nghiệm thương đau. Chúng ta trở nên phán xét, bực dọc và bất an trước những gì mà tự mình

cho là “Lỗi lầm của người khác”.

…Cuộc đời này ngắn lắm, sẽ chẳng ai khả năng và trách nhiệm níu giữ cho ta những thời khắc sinh

mệnh đang vùn vụt trôi qua. Vậy chúng ta muốn hoài phí cuộc sống để đi phán xét những sai lầm của

người khác? Cách mà chúng ta nhìn người khác, thực chất đang phản ánh nội tâm của chính mình…

(Trích Luôn nhìn thấy lỗi của người khác: Nỗi bất hạnh lớn lao của những cái đầu chứa đầy thành kiến,

http://kenh14.vn)

Câu 1. Nhận biết

Chỉ rõ hai phép liên kết về hình thức được sử dụng trong văn bản. (0,5 điểm)

Câu 2. Nhận biết

Tại sao tác giả cho rằng: “mỗi người trong chúng ta, ai cũng giống như cô vợ trong câu chuyện kia”? (0,5

điểm)

Câu 3. Thông hiểu

Theo anh/chị, vì sao con người trong xã hội ngày càng mất đi cái nhìn trong sáng khi nhìn nhận lỗi lầm

của người khác? (1,0 điểm)

Câu 4. Thông hiểu

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Anh/chị đồng tình với quan điểm “Cách mà chúng ta nhìn người khác, thực chất đang phản ánh nội

tâm của chính mình” không? Vì sao? (1,0 điểm)

Trang 1


II.LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm) Vận dụng cao

Bằng một đoạn văn khoảng 200 chữ, hãy bày tỏ quan điểm của anh/chị về thông điệp gợi ra từ phần Đọc

hiểu: Không nên nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt của thành kiến.

Câu 2. (5,0 điểm) Vận dụng cao

Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), âm thanh tiếng sáo xuất hiện nhiều lần. Anh/chị hãy phân

tích diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong mỗi lần tiếng sáo xuất hiện, từ đó chỉ ra giá

trị nhân đạo của tác phẩm.

Câu

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Nội dung

Đọc hiểu 1:

Phương pháp: căn cứ các phép lien kết đã học

Cách giải:

- Phép thế: bà hàng xóm (đoạn 1), bà ấy (đoạn 2)

- Phép lặp: tấm vải, chúng ta

2.

Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích

Cách giải:

- Vì: Chúng ta đang nhìn đời, nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc,

bám dày lớp bụi bặm của thành kiến và những kinh nghiệm thương đau. Chúng ta trở nên

phán xét, bực dọc và bất an trước những gì mà tự mình cho là “Lỗi lầm của người khác”.

3.

Phương pháp: phân tích, lý giải

Cách giải:

Vì: Con người luôn xu hướng đổ lỗi cho hoàn cảnh và cho người khác, khắt khe với lỗi

lầm người khác hơn là với chính mình. Bởi vậy, khi nhìn nhận sai lầm của người khác khó

ai được cái nhìn “trong sáng”.

4.

Phương pháp: căn cứ các phép liên kết đã học

Cách giải:

- Đồng ý.

- Lí giải:

+ Một người đang túng thiếu sẽ khó chịu với người đang giàu ; một người không thành

thật sẽ nhìn mọi người đầy gian dối; …. Cái nhìn tiêu cực ấy xuất pháp từ một nội tâm đầy

bất an về chính mình, về cuộc đời.

+ Những toan tính, sân hận khiến chúng ta chỉ mải mê chạy theo những sai trái, lỗi lầm của

người khác mà quên đi những gì tươi đẹp, hạnh phúc ở ngoài kia. Tự bạn đang đánh mất đi

cuộc sống hạnh phúc của chính mình.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

=> Nhìn cuộc sống hiện thực thế nào chính là phản ánh cuộc sống nội tâm bên trong của

chính bạn. Tâm an cuộc đời mới an yên, tâm bất an cuộc đời sẽ đầy bão tố.

Trang 2


Làm văn

1 Phương pháp: phân tích, lý giải, tổng hợp

Cách giải:

1. Giới thiệu vấn đề: Không nên nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt của thành kiến

2. Giải thích vấn đề

- Đôi mắt thành kiến: là cái nhìn mang tính chất cố định về người hay vật xuất pháp từ cái

nhìn sai lệch hoặc dựa trên cảm tính và xu hương đánh giá thấp, hạ bệ người hay vật đó.

=> Đôi mắt thành kiến đối với cuộc đời, con người sẽ làm cuộc sống bản thân mỗi người trở

nên tăm tối, khổ sở.

3. Bàn luận vấn đề

- Nhìn đời bằng đôi mắt thành kiến là nỗi bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời mỗi con người.

- Khi bạn mang trong mình đôi mắt của sự thành kiến bạn chỉ nhìn thấy những điều tiêu cực,

những xấu xa ở sự vật hiện tượng, con người đó. Mà không tìm ra những ưu điểm tốt đẹp

của họ.

- Nhìn đời bằng đôi mắt thành kiến khiến cho cuộc sống của chúng ta trở nên tăm tối, bởi

bạn chỉ chăm chú tìm lỗi sai, khuyết điểm mà không nắm bắt, hưởng thụ được nét đẹp của

con người, của cuộc sống.

- Người nhìn cuộc đời đầy thành kiến là những người cái tâm đầy bất an, hoảng loạn, sợ

hãi.

- Bởi vậy chúng ta không nên nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thành kiến, hãy mở rộng tâm hồn,

trái tim, hãy đánh giá mọi việc, mọi người bằng trái tim công tâm trong sáng, để nhận ra

cuộc sống này, con người này cuộc thật tốt đẹp biết bao.

- Liên hệ bản thân.

2 Phương pháp: phân tích, lý giải, tổng hợp

Cách giải:

• Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam,

là nhà văn biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của

những miền đất mà ông đã đi qua. Ông giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất duyên và

đầy sức hấp dẫn; vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa.

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc – tập

truyện được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Tập Truyện

Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, viết về dân tộc Thái; Cứu đất cứu mường, viết về dân

tộc Mường; Vợ chồng A Phủ, viết về dân tộc Mèo (Mông) – mỗi truyện một dáng vẻ, sức

hấp dẫn riêng, nhưng đọng lại lâu bền trong kí ức của nhiều người đọc là truyện Vợ chồng A

Phủ.

• Giới thiệu nhân vật

- Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” -> nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.

- Tài năng: thổi sáo, thổi lá. Hay đến mức biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi

theo Mị.

- Phẩm chất tốt đẹp: Khi bố mẹ Mị hết đời chưa trả được món nợ cho thống lí Pá Tra, thống

lí Pá Tra định bắt Mị về làm con dâu gạt nợ:

+ Hiếu thảo:“ Con sẽ làm nương ngô giả nợ thay cho bố”

+ Tự tin vào khả năng lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô”

+ Khao khát tự do: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


-> Xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại bị xã hội của tiền quyền, cường quyền và

thần quyền vùi dập, đẩy vào ngã rẽ tăm tối.

• Phân tích diễn biến tâm trạng Mị trong những lần tiếng sáo xuất hiện

❖ Tiếng sáo cùng với khung cảnh ngày xuân và hơi rượu đã làm thức dậy sức sống tiềm

tàng trong Mị.

❖ Tiếng sáo: sự dịch chuyển, vận động:

- Từ xa đến gần (Từ ngoài vào trong, từ khách thể nhập vào chủ thể):

Lấp ló ngoài đầu núi vọng lại.

Văng vẳng ở đầu làng.

Lửng lơ bay ngoài đường.

Rập rờn trong đầu Mị.

- Từ hiện tại đến quá khứ (Từ cõi thực đến cõi mộng).

- Tiếng sáo rủ bạn đi chơi đầy háo hức -> tiếng sáo gọi bạn yêu trong tuyệt vọng.

* Diễn biến tâm lí của Mị trong lần đầu xuất hiện tiếng sáo:

- Tiếng sáo dìu hồn Mị bềnh bồng sống lại với những khát khao yêu thương hạnh phúc của

ngày xưa, dẫn Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ.

- Mị lấy hũ rượu uống, say lịm mặt ngồi đấy -> Mị lãng quên hiện tại và sống lại quá khứ

- Tương tranh, mẫu thuẫn giữa sức sống tiềm tàng và thực tại hiện hữu:

+ Sức sống tiềm tàng:

++ Mị thấy “phơi phới” trở lại, “vui sướng”

++ Thức dậy ý thức và khát vọng: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”.

+ Thực tại hiện hữu:

++ Mị muốn đi chơi nhưng lại không đi chơi, Mị đi vào buồng.

++ Mị nghĩ đến thân phận hiện tại của mình

++ Mị muốn ăn lá ngón để tự tử

=> xót xa và bất lực trước hoàn cảnh thực tại

*Diễn biến tâm trạng trong lần thứ hai nghe tiếng sáo:

- Lấy ống mỡ sắn một miếng để thắp đèn lên cho sáng. -> thắp sáng căn buồng cũng là thắp

sáng khát vọng giải thoát cuộc đời mình.

- Chuẩn bị đi chơi: quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa, rút thêm cái áo.

- Hành động vượt thoát khỏi hoàn cảnh bị chặn đứng: Mị bị A Sử trói vào cột, không cho đi

chơi.

-> A Sử chỉ trói được thân xác Mị chứ không trói được ý muốn đi chơi, không trói được khát

vọng, sức sống của Mị.

-> Mị vẫn thả hồn theo tiếng sáo đến với những cuộc chơi.

- Sáng hôm sau Mị tỉnh lại, quay về thực tại, nhận ra tình thế bi đát của mình: Những dây

trói xiết lại, đau dứt từng mảnh thịt, thấy mình không bằng con ngựa ở bên kia vách.

• Giá trị nhân đạo

- Tin tưởng vào bản chất người luôn tiềm tàng trong mỗi con người: khát vọng sống mãnh

liệt.

- Ngợi ca vẻ đẹp của con người lao động miền núi

• Tổng kết

- Chi tiết giá trị nghệ thuật đặc sắc thể hiện sức sống, khát vọng được sống mãnh liệt của

con người.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


- Qua chi tiết của thể hiện được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 5


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 1

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Trong một nhóm người, số đông sẽ tạo áp lực buộc số ít phải hành động theo số đông, hoặc là số ít sẽ bị

khai trừ. Tâm lý này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nguyên nhân số một là là tâm lý đám đông. Khi không

thay đổi được số ít, số đông thể sẽ dùng những biện pháp tiêu cực để loại bỏ số ít ra khỏi cộng đồng, dẫn

tới những hậu quả thương tâm. Trong hàng ngàn năm lịch sử, không ít người đã những kết cục bi thảm

chỉ vì những tư tưởng cách tân. Nếu bạn suy nghĩ và hành động khác mọi người, mọi người sẽ nhìn bạn như

một kẻ lập dị. Lobachevsky khi phát minh ra môn hình học mang tên mình (còn gọi là hình học phi Eculid)

đã bị cho là một kẻ điên cho đến mãi một thế kỷ sau. Tâm lý đám đông chính là một trong những rào cản

hàng đầu ngăn cản xã hội đi lên, bởi vì đã là cách tân thì phải điểm khác với số đông. Chưa nhà cải cách

nào, tư tưởng mới nào, không vấp phải sự phản đối từ một đám đông cuồng nộ.

Một trào lưu vi phạm đạo đức (thậm chí là cả pháp luật) đang lan nhanh trên các trang mạng xã hội là

tung thông tin cá nhân, hình ảnh của những người “bị ghét” để đám đông “bày tỏ cảm xúc”. Đây là hành

động của những người thiếu ý thức cộng đồng, kém nhận thức xã hội. Nhưng chúng ta tư duy, vì thế hãy

đầu óc nhận biết khi nào cần nói gì, làm gì, để chống lại những suy nghĩ bản năng. Đừng để bị cuốn theo

những đám đông cuồng nộ và ngu dốt.

Câu 1: Xác định hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản trên.

Câu 2: Theo tác giả bài viết, thế nào là một đám đông “cuồng nộ và ngu dốt”?

Câu 3: Nêu nội dung của văn bản trên.

(tổng hợp từ internet)

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với quan điểm: “Tâm lý đám đông chính là một trong những rào cản hàng

đầu ngăn cản xã hội đi lên” hay không?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về những biện pháp để không

“bị cuốn theo những đám đông cuồng nộ và ngu dốt”.

Câu 2 (5,0 điểm): Phân tích vẻ đẹp sinh động, ấn tượng của núi rừng Việt Bắc được thể hiện qua đoạn

thơ sau:

“Ta về, mình nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Trang 1


Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình.

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

Hãy liên hệ so sánh cách miêu tả khung cảnh của Tố Hữu trong đoạn thơ trên với khổ thơ sau:

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

-------------------- HẾT --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản trên: Bình luận, chứng minh.

Câu 2: (0,5 điểm)

Theo tác giả bài viết, một đám đông “cuồng nộ và ngu dốt” là:

(Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử)

• Đám đông này phản đối, đàn áp, thậm chí gây ra hậu quả thương tâm cho những cá nhân quan điểm cách

tân, những tư tưởng tiến bộ tác dụng thúc đẩy xã hội đi lên.

• Đám đông này tận dụng các trang mạng xã hội để tạo dư luận không tốt về những cá nhân mâu thuẫn với kẻ

đăng tải thông tin mà không biết rằng đó là một hành động vi phạm đạo đức (thậm chí là cả pháp luật).

Câu 3: (1,0 điểm)

Nội dung của văn bản trên:

• Qua những dẫn chứng cụ thể, sinh động, tác giả văn bản đã trình bày quan điểm về tác hại khôn lường của

tâm lí đám đông đối với cá nhân và xã hội.

• Thông qua văn bản, tác giả cũng đã bày tỏ thái độ lên án, phê phán nặng nề thứ “tâm lí đám đông” đang tận

dụng các trang mạng xã hội để để tạo dư luận không tốt, ngăn cản những quan điểm cách tân, tiến bộ. Người

viết cũng đã cảnh tỉnh mọi người tránh bị cuốn theo những đám đông cuồng nộ và ngu dốt vì nhiều khả năng

việc làm của đám đông ấy là những hành động vi phạm đạo đức (thậm chí là cả pháp luật).

Câu 4: (1,0 điểm)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Ý kiến trên hoàn toàn xác đáng, vì những nguyên nhân sau:

• “Tâm lí đám đông” vốn coi trọng sự tương đồng, tính ổn định cao, thậm chí bảo thủ, cứng nhắc nên sẵn

sàng phản đối những điều mới lạ, khác biệt, dù rằng những tư tưởng, quan điểm ấy rất tiến bộ, thể đưa xã

hội đi lên.

• Ngày nay, khi lợi thế của các trang mạng xã hội đang được tận dụng tối đa, “tâm lí đám đông” ấy sẽ còn lôi

Trang 2


kéo thêm được rất nhiều cá nhân thiếu hiểu biết, a dua nhằm ngăn cản những quan điểm cách tân, giá trị của

thiểu số năng lực, nhận thức đúng đắn.

• Vì lo sợ sự khống chế, đàn áp hoặc bị loại bỏ bằng những biện pháp tiêu cực, những cá nhân sự khác

biệt, tư duy tích cực, đổi mới sẽ không dám trình bày quan điểm cá nhân, không dám thể hiện chính kiến

để rồi dần dần chấp nhận xuôi chiều theo đám đông ngu dốt và cuồng nộ.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Cần hiểu rõ những tác hại đối với cá nhân và xã hội mà đám đông ấy gây ra.

• Mỗi cá nhân phải lên tiếng và động viên người khác phê phán, chống lại cũng như ngăn chặn những hành

động quá khích của đám đông tiêu cực ấy.

• Chúng ta cần thể hiện chính kiến trong mọi việc, tránh thái độ xuôi chiều, thỏa hiệp.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn).

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích vẻ đẹp sinh động, ấn tượng của núi rừng Việt Bắc được thể hiện qua đoạn thơ. Liên hệ so

sánh với khổ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Tố Hữu (1920 – 2002) được đánh giá là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ của Tố Hữu

là thơ trữ tình chính trị, mang đậm tính dân tộc, chất truyền thống. Hoàn thành vào tháng 10/1954, bài thơ đã

được lấy làm tên chung cho cả tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954). Tác phẩm là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng

là một sáng tác xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Đoạn trích được học là đoạn mở

đầu phần một của thi phẩm này.

b. Bàn luận về vấn đề

* Lí giải: Vẻ đẹp sinh động, ấn tượng của núi rừng Việt Bắc được thể hiện qua:

• Bốn mùa được tái hiện đầy đủ với những tín hiệu, những nét đặc trưng.

• Hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong đoạn thơ tràn đầy sức sống, rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu.

• Hình ảnh con người với vẻ đẹp khỏe khoắn, tinh tế xuất hiện đan cài trong khung cảnh bốn mùa càng làm

tăng nét sinh động của thiên nhiên.

* Vẻ đẹp bốn mùa:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Mùa đông: Màu đỏ ấm áp, sức lan tỏa của hoa chuối giữa bạt ngàn xanh núi rừng. Sự lấp lánh của ánh

dao phản chiếu sắc nắng khiến cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch bỗng sinh động với vẻ đẹp khoẻ

khoắn, mạnh mẽ của con người lao động.

• Mùa xuân: Màu trắng tinh khiết của hoa mơ trở thành sắc màu chủ đạo của khu rừng mùa xuân nên thơ,

hòa với màu trắng của sợi giang trên tay người đan nón tạo nền cho con người hiện lên với vẻ đẹp giản dị mà

tinh tế.

• Mùa hè: Màu vàng của rừng phách hòa cùng tiếng ve xao động Hình ảnh con người “hái măng một mình”

là vẻ đẹp trong sự thầm lặng và cần mẫn với công việc.

• Mùa thu: Ánh sáng trăng dịu nhẹ, huyền ảo, gợi không khí thanh bình, yên ả. Và kết lại cũng chính là hình

ảnh con người thể hiện qua tiếng hát ngọt ngào dưới ánh trăng thanh mang theo bao mơ ước tốt lành, tươi

Trang 3


đẹp và tình cảm thiết tha ân tình, son sắt gắn bó với cách mạng.

c. Đánh giá

• Có thể nói bên cạnh những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi thì Việt Bắc được bao bọc bởi thiên nhiên,

hiện lên đầy sức sống trong vẻ đẹp đời thường gần gũi, thân thiết. Đó là một sự kết hợp hài hòa tuyệt vời

giữa cảm xúc và nghệ thuật, giữa hình ảnh và âm thanh, màu sắc và ánh sáng.

• Đoạn thơ được cấu trúc cân đối, hài hòa; cảnh và người được thể hiện trong đoạn thơ đều đẹp, đều đáng

yêu. Nếu không thật sự gắn bó sâu sắc, không tình yêu và nỗi nhớ Việt Bắc nồng nàn, tha thiết thì nhà thơ

Tô Hữu không thể nào xây dựng được bức tranh quê hương cách mạng với vẻ đẹp tuyệt diệu và ấm áp tình

người đến như vậy.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Cảnh được tái hiện từ kí ức nên chắt lọc được những gì ấn tượng nhất, đẹp nhất.

• Khung cảnh hiện lên đầy sức sống, sự xuất hiện của con người càng làm tăng vẻ gợi cảm, sinh động cho

cảnh vật.

• Giọng thơ ngọt ngào, tha thiết, hình ảnh thơ đẹp.

* Khác:

VIỆT BẮC

• Tập trung làm rõ vẻ đẹp của bốn mùa Việt Bắc, mỗi mùa một nét đẹp riêng, hài hòa đường nét, âm thanh,

sắc màu, ánh sáng.

• Gợi ý sâu xa về con đường cách mạng, thể hiện nét đặc trưng của hồn thơ Tố Hữu

• Cái tôi trữ tình mang tính đại diện cho chiến sĩ về xuôi, cho cách mạng.

• Điệp từ “nhớ” khắc sâu thêm kỉ niệm, hình ảnh vừa hiện thực vừa lãng mạn.

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

• Tập trung làm rõ vẻ đẹp thanh tân của khu vườn thôn Vĩ với “nắng mới lên”, “vườn mướt xanh”.

• Cái tôi trữ tình mang tính cá thể, bộc lộ khát khao gắn bó, giao cảm với cuộc đời của thi nhân.

• Hình ảnh thơ tươi sáng, đa nghĩa...

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 2

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Đội tuyển Nhật đã chính thức về nước sau khi bị đội tuyển Bỉ lội ngược dòng tại vòng 1/8 của World Cup

2018. Nhưng hơn cả một trận thua, thái độ và cách hành xử của người Nhật sau đó đã khiến cả thế giới

nghiêng mình nể phục (...) Trận bóng vừa rồi, đội tuyển Nhật Bản thua trong tình huống đã bước được một

chân vào ngưỡng của chiến thắng. Vài chục phút cuối đã thay đổi cục diện hoàn toàn trận đấu. Camera đã

ghi lại hình ảnh nhiều khán giả cổ vũ cho đội Nhật không cầm được nước mắt trên sân. Tuy nhiên sau đó,

dẫu buồn thương và tiếc nuối, nhưng người Nhật vẫn làm điều tưởng như nhỏ nhặt chẳng đáng để bận tâm

như là ở lại nhặt sạch rác trên khán đài sau trận đấu. Chẳng ai tặng huy chương cho họ. Thậm chí, chúng ta

hẳn cũng đều hiểu là sân vận động sẽ người dọn vệ sinh, trong chi phí bỏ tiền ra mua vé đã bao gồm việc

vệ sinh chỗ ngồi rồi. Người Nhật chắc chắn biết điều đó, nhưng họ không quan tâm, họ làm chuyện họ thấy

cần. Mà không chỉ một vài cá nhân, rất nhiều người đã cùng nhau nán lại dọn rác. Ấn tượng hơn nữa là bức

ảnh được bà Priscilla Janssens - một quan chức của FIFA chia sẻ trên Twitter. Theo đó, sau trận thua Bỉ,

đội tuyển Nhật ra về để lại một phòng thay đồ sạch tinh tươm như chưa từng được sử dụng. Họ để lại một

mẩu giấy ghi chữ “Cảm ơn” viết bằng tiếng Nga. Trên các diễn đàn, mạng xã hội và trên các mặt báo

lớn, hình ảnh người Nhật dọn rác sau trận đấu luôn được chia sẻ dù điều đó không phải là mới. Nhặt rác là

việc chỉ cần muốn là thể làm, nhưng vấn đề là không phải ai cũng muốn. Tuy nhiên, người Nhật sẵn sàng

làm những điều mà họ nghĩ là tốt đẹp thậm chí không cần ai tôn vinh. không tìm thấy những bình luận trên

mạng thể hiện sự tự hào của người Nhật khi được cả thế giới để ý đến. Với họ, đó là một chuyện bình thường

và hiển nhiên.

(Nhìn từ đội tuyển Nhật tại Word cup 2018: Thua tại trận đấu, thắng ở lòng người, Hạ Hồng Việt, trích

từ https://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/nhin-tu-doituyen-nhat-tai-world-cup2018-thua-tai-tran-dauthang-o-longnguoin20180704064337528.htm)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản trên.

Câu 2: Vì sao người Nhật “khiến cả thế giới nghiêng mình nể phục”?

Câu 3: Nêu nội dung của đoạn văn bản trên.

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với quan điểm: “Nhặt rác là việc chỉ cần muốn là thể làm, nhưng vấn đề

là không phải ai cũng muốn” hay không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Từ đoạn văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về tầm quan trọng của

văn hóa ứng xử đối với con người.

Trang 1


Câu 2 (5,0 điểm):

Làm rõ nội dung trữ tình chính trị trong phong cách thơ Tố Hữu thể hiện qua đoạn thơ sau:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muốn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miền

Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”

Hãy liên hệ so sánh cách thể hiện nội dung trữ tình chính trị trong đoạn thơ trên với khổ thơ sau:

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Phong cách ngôn ngữ của văn bản trên: báo chí.

Câu 2: (0,5 điểm)

Rất đậm hương và rộn tiếng chim.”

-------------------- HẾT --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Người Nhật “khiến cả thế giới nghiêng mình nể phục” vì:

• Dù thua nhưng người Nhật vẫn ở lại nhặt sạch rác trên khán đài sau trận đấu.

(Việt Bắc)

(Từ ấy)

• Đội tuyển Nhật ra về (sau trận thua với Bỉ) để lại một phòng thay đồ sạch tinh tươm như chưa từng được sử

dụng. Họ để lại một mẩu giấy ghi chữ “Cảm ơn” viết bằng tiếng Nga.

Câu 3: (1,0 điểm)

Nêu nội dung của văn bản:

• Thuật lại những việc làm cụ thể biểu hiện thái độ và cách ứng xử văn hóa của người Nhật sau khi bị đội

tuyển Bỉ lội ngược dòng tại vòng 1/8 của World Cup 2018.

• Qua đó, tác giả cũng đã ca ngợi thái độ và cách ứng xử văn hóa, rất đáng trân trọng của người Nhật.

Câu 4: (1,0 điểm)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


Ý kiến trên hoàn toàn xác đáng, vì những nguyên nhân sau:

• Nhặt rác là công việc dễ làm, nhẹ nhàng, không đòi hỏi sức lực, trí tuệ nhiều, không tốn quá nhiều thời

gian. Vì vậy, ai cũng thể thực hiện công việc này.

• Do đa số mọi người nghĩ rằng công việc này dành cho những người dọn vệ sinh nên họ đã không làm.

• Mặt khác, cũng thể do tâm lý ngại chia sẻ công việc, ngại giúp đỡ người khác nên không phải ai cũng

muốn làm.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

Văn hóa ứng xử bộc lộ những đặc điểm tính cách của cá nhân thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và ngôn

ngữ của cá nhân với những người chung quanh.

Văn hóa ứng xử góp phần làm nên cốt cách, truyền thống dân tộc.

• Ứng xử văn hóa sẽ được người khác kính trọng, ảnh hưởng tích cực đến những người xung quanh.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Nội dung trữ tình chính trị trong phong cách thơ Tố Hữu thể hiện qua đoạn trích Việt Bắc. Liên hệ so

sánh với khổ đầu bài thơ Từ ấy.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Tố Hữu (1920 – 2002) được đánh giá là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ của Tố Hữu

là thơ trữ tình chính trị, mang đậm tính dân tộc, chất truyền thống. Hoàn thành vào tháng 10/1954, bài thơ

Việt Bắc đã được lấy làm tên chung cho cả tập thơ cùng tên (1947 – 1954). Tác phẩm là đỉnh cao của thơ Tố

Hữu và cũng là một sáng tác xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Đoạn trích được

học là đoạn mở đầu phần một của thi phẩm này.

b. Bàn luận về vấn đề

* Tính chất trữ tình chính trị được thể hiện trong đoạn thơ: thể hiện qua niềm tự hào về sức mạnh của toàn

dân gắn với sự trưởng thành nhanh chóng của kháng chiến, của lực lượng cách mạng trong ngày ra trận hào

hùng để làm nên những chiến thắng vẻ vang, dồn dập.

* Biểu hiện cụ thể:

• Sức mạnh tổng lực:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

- Đoàn quân với sức mạnh hùng dũng, khoẻ khoắn với những bước chân vang rền, đội ngũ kéo dài trải rộng.

- Đoàn dân công đỏ đuốc đi trong đêm với sức mạnh “bước chân nát đá” thể hiện tinh thần đầy quyết tâm

đạp bằng gian khó, chông gai mà vươn tới.

- Đoàn xe ra trận với ánh sáng đèn pha xua tan hết bóng đêm của vất vả, gian lao cùng với lòng lạc quan tin

tưởng mãnh liệt ở tương lai sáng ngời ngay từ khi mới xuất quân.

• Niềm vui chiến thắng: Tác giả đã liệt kê các địa danh gắn liền cùng chiến thắng với nhịp điệu sôi nổi thể

hiện niềm tự hào vô tận. Các chiến thắng vang dội trăm miền tạo ra âm vang lớn lao của niềm tin đang lan

rộng.

c. Đánh giá: Cùng với tính dân tộc đậm đà (thể thơ lục bát đã được vận dụng nhuần nhuyễn với những câu

thơ dung dị, dân dã gần với ca dao, lối kết cấu đối đáp “mình – ta” trong ca dao, dân ca được vận dụng một

Trang 3


cách sáng tạo, chất liệu văn học dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình,

những cách diễn đạt giàu hình ảnh, nghệ thuật hô ứng, các cách chuyến nghĩa truyền thống được sử dụng

thích hợp), giọng thơ tâm tình, ngọt ngào tha thiết đã làm nên nét độc đáo cho phong cách nghệ thuật thơ Tố

Hữu và tôn thêm giá trị của thi phẩm này.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Đề cập đến những vấn đề ý nghĩa, chuyển tải được nội dung chính trị quan trọng gắn bó chặt chẽ với những

hoàn cảnh đặc biệt.

• Ít nhiều xuất phát từ cảm xúc cá nhân nhưng cái tôi trữ tình mang tính đại diện, bao quát.

• Sử dụng những hình ảnh thơ đẹp, ấn tượng.

* Khác:

VIỆT BẮC

• Khẳng định sức mạnh tổng lực, đường lối kháng chiến toàn diện, toàn dân là nguyên nhân cơ bản nhất

mang đến thắng lợi vẻ vang.

• Nội dung gắn với cuộc chia tay lịch sử, góp phần làm rõ ý nghĩa tổng kết cho cuộc kháng chiến chống

Pháp.

• Giọng thơ mạnh mẽ, hình ảnh mang tính lí tưởng hóa, kết hợp hài hòa giữa hiện thực và lãng mạn cách

mạng.

TỪ ẤY

• Khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa thiêng liêng của lí tưởng cộng sản đối với tác giả và bao lớp thanh niên

cùng thế hệ.

• Nội dung gắn với mốc son chói lọi trong cuộc đời tác giả: được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

• Giọng thơ tha thiết, hình ảnh tươi sáng, đậm chất lãng mạn.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 3

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Ngày xưa, ở một vùng đất xa xôi nọ, hai anh em trẻ tuổi đáng yêu. Họ cũng giống như bất kì chàng

trai trẻ nào mà bạn thể gặp hôm nay. Tuy nhiên, tính khí của hai anh em lại rất ngỗ nghịch. Và mọi việc

bắt đầu trở nên nghiêm trọng khi hai người đi ăn trộm cừu của nông dân trong vùng - một hành vi bị coi là

trọng tội. Một lần nọ, cả hai anh em bị bắt quả tang. Dân làng quyết định trừng phạt họ bằng cách thích lên

trán họ chữ “ST” (tên trộm cừu) như một dấu ấn tội lỗi sẽ theo họ mãi mãi.

Một trong hai anh em họ vì quá xấu hổ nên đã bỏ đi biệt xứ. Kể từ đó, chẳng còn ai biết được tin tức gì

về anh ta. Con người thứ hai, vô cùng ân hận đã ở lại làng và cố gắng hết sức để bù đắp lại những lỗi lầm

của mình. Lúc đầu, mọi người đều e dè và chẳng muốn dính líu gì với anh ta. Tuy nhiên, anh vẫn quyết tâm

hoán cải. Hễ trong làng ai đau yếu anh đều tìm đến ân cần chăm sóc và lo lắng. Bất cứ ai việc gì nặng

nhọc, anh đều tới giúp đỡ hết mình, chẳng cần biết đó là ai, giàu hay nghèo. Cứ như thế, anh luôn sống vì

người khác mà chẳng hề đòi ban thưởng hay trả công.

Nhiều năm trôi qua, một bữa nọ một vị khách bộ hành đi ngang qua ngôi làng. Trong lúc ngồi ở quán

nước bên đường, ông trông thấy một ông lão, trên trán khắc một dấu ấn khác lạ ngồi gần đó. Bất kì ai

trong làng đi ngang qua cũng đều dừng lại kính cần chào hỏi cụ, đám trẻ con chơi xong cũng chạy đến

vào lòng cụ. Tất cả mọi người đều kính trọng ông lão. Thấy ngạc nhiên. Người khách lạ hỏi thăm vị chủ

quán: “Hai kí tự trên trán ông cụ nghĩa là gì thế?”. Người chủ quán đáp: “Tôi cũng không rõ nữa.

Chuyện xảy ra cách đây đã lâu lắm rồi”. Sau đó, ông ngừng lại suy nghĩ một lát rồi nói: nhưng theo tôi,

chắc nó nghĩa là “thánh nhân”. Ông đã dùng lối chơi chữ, “ST” vừa là hai ký tự đầu của từ “sheep thief”

- tên trộm cừu, vừa là cách viết tắt của “saint” - thánh nhân.

Câu 1: Xác định hai phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên.

(Hai anh em, trích từ Hạt giống tâm hồn)

Câu 2: Tác giả bài viết đã xác định nguyên nhân nào khiến “tất cả mọi người đều kính trọng ông lão”

trong khi trước đó “mọi người đều e dè và chẳng muốn dính líu”.

Câu 3: Nêu nội dung của văn bản trên.

Câu 4: Nhận xét của anh (chị) về tình tiết một người ra đi biệt xứ vì quá xấu hổ và một người ở lại với

quyết tâm hoán cải.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu suy nghĩ của anh (chị) về tác hại của thái độ sợ sai

lầm, trốn tránh sai lầm trong cuộc sống.

Trang 1


Câu 2 (5,0 điểm):

Phân tích đoạn thơ sau:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên sóng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

(Tây Tiến, Quang Dũng)

Hãy liên hệ so sánh cách miêu tả khung cảnh của Quang Dũng trong đoạn thơ trên với bài thơ sau:

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không,

Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

-------------------- HẾT --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Hai phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên: tự sự, miêu tả.

Câu 2: (0,5 điểm)

(Chiều tối, Hồ Chí Minh)

Nguyên nhân đã khiến “tất cả mọi người đều kính trọng ông lão” trong khi trước đó “mọi người đều e dè và

chẳng muốn dính líu”: Sau khi mắc lỗi lầm thời trẻ, ông đã nhận ra lỗi và quyết tâm hối cải, thực hiện nhiều

việc làm ý nghĩa, tốt đẹp.

Câu 3: (1,0 điểm)

Nêu nội dung của văn bản:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Tác giả thuật lại câu chuyện về hai anh em trót lầm lỗi và việc đối diện với sai lầm đó của hai người.

• Qua đó, người viết ngợi ca cách ứng xử với sai lầm của người thứ hai khi ông ở lại quyết tâm sửa chữa lỗi

lầm của mình.

Trang 2


Câu 4: (1,0 điểm)

Nhận xét về tình tiết một người ra đi biệt xứ vì quá xấu hổ và một người ở lại với quyết tâm hoán cải:

• Qua tình tiết ấy, tác giả muốn khẳng định sự đối lập giữa hai hành động sẽ dẫn đến sự khác biệt ở kết quả

đạt được.

Từ đó, câu chuyện cũng đã chuyển tải thông điệp: con người khi dám nhận lỗi và sửa chữa thì sẽ trưởng

thành hơn, ngược lại sự sợ hãi và hèn nhát chỉ khiến con người trở nên thấp kém.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Nếu sợ sai lầm tức là ta đã khước từ những bài học kinh nghiệm quý báu để làm giàu vốn sống cho bản

thân.

• Sợ sai lầm cũng đồng nghĩa với việc tự ta đã đánh mất đi những cơ hội để hoàn thành công việc, để kiểm

nghiệm khả năng của bản thân và làm ta trở nên mạnh mẽ hơn.

• Thái độ sợ hãi sẽ khiến con người chỉ dám co mình lại trong cái vỏ chật hẹp của tư tưởng, trở thành kẻ hèn

nhát và tụt hậu.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ trong bài Tây Tiến. So sánh cách miêu tả khung cảnh của Quang Dũng trong đoạn

thơ trên với bài thơ Chiều tối.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Quang Dũng (1921 - 1988) là một người tài hoa. Thơ ông vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa,

phóng khoáng, đậm chất lãng mạn. Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), Quang

Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết lên bài thơ này. Bài thơ lúc đầu tên là Nhớ

Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô (1986).

b. Bàn luận về vấn đề

• Hùng vĩ, dữ dội với những con đường dốc nối tiếp nhau đầy hiểm trở. Con đường hành quân qua dốc núi

vừa gập ghềnh, trắc trở; vừa cao vừa sâu hun hút, đỉnh dốc chơi vơi giữa trời trong vắng lặng, con đường như

dài ra theo bao nhiêu khó khăn, vất vả. Chiều cao và chiều sâu của dốc núi dựng đứng, thác gầm, cọp dữ đã

đặc tả được sự nguy hiểm đối với chiến sĩ trải ra suốt “chiều chiều, đêm đêm”. Những cuộc hành quân gian

khổ, khắc nghiệt, triền miên đã khiến các chiến sĩ phải vắt kiệt sức lực và không ít người đã ngã xuống trên

con đường hành quân.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Mĩ lệ, trữ tình khi trong màn mưa phủ khắp đất trời, thấp thoáng hiện lên một vài mái nhà, như bồng bềnh

trên một biển mưa giăng khắp núi rừng. Nét bút linh động, biến ảo, sử dụng ánh sáng và âm thanh tạo nên vẻ

lung linh và nồng nàn tình cảm của một đêm liên hoan quân dân. Ở những câu thơ về một chiều Châu Mộc,

vẻ đẹp thơ mộng, mơ màng trong chiều sương của ngàn lau, thác lũ lại được vẽ bằng những nét bút tinh tế,

mềm mại. Những bông lau chập chờn, lay động trên những bến bờ như cũng hồn, hay chính tâm hồn nhà

thơ đã nhập cảm vào cảnh vật mà thấy được hồn của cảnh trong mỗi bông lau khẽ lay động, phơ phất. Cũng

như vậy, những bông hoa dập dềnh trên dòng nước lũ cũng mang hồn cảnh vật quyến luyến, tình tứ. Nổi lên

trên nền cảnh của bức tranh thiên nhiên thơ mộng là hình ảnh một dáng người vững chãi trên con thuyền độc

mộc, giữa dòng nước lũ. Hình ảnh ấy tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khỏe khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ

Trang 3


mộng, mềm mại, đẹp mơ màng.

c. Đánh giá

• Với bút pháp kết hợp hài hòa giữa tả thực và lãng mạn, tác giả đã tái hiện lại chặng đường hành quân thú vị

nhưng lắm gian truân vất vả. Qua đó đoạn thơ đã dựng nên bức tranh khá hoàn chỉnh và sinh động về thiên

nhiên.

• Những đường nét tạo hình như khắc sâu vào lòng người đọc ấn tượng khó phai mờ và sự phối thanh nhịp

nhàng khiến đoạn thơ nghe như âm vang một khúc nhạc lâng lâng nhung nhớ về một vùng đất xa xôi bỗng

trở nên thân thương gần gũi.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Khắc họa khung cảnh rừng núi vừa trữ tình vừa nhiều thử thách, khó khăn.

• Góp phần làm bật lên vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của con người.

• Cảm nhận khung cảnh từ góc nhìn của người chiến sĩ cách mạng mang tâm hồn thi nhân.

• Ngôn từ giàu chất tạo hình, giàu nhạc tính; hình ảnh thơ đẹp, sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực và thi vị.

* Khác:

TÂY TIẾN

• Khung cảnh rừng núi được khắc họa khá rõ nét gắn với chặng đường hành quân nhiều kỉ niệm.

• Hình tượng trung tâm là thiên nhiên với hai nét đặc trưng (hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ, trữ tình).

• Giọng thơ vừa nhẹ nhàng vừa gân guốc, mạnh mẽ, hình ảnh thơ phong phú, độc đáo.

CHIỀU TỐI

• Miêu tả khung cảnh rừng núi với những nét phác họa giản đơn, đan cài cùng bức tranh sinh hoạt trong thời

gian chiều tối gắn với con đường chuyển lao.

• Hình tượng trung tâm là người lao động với vẻ đẹp tràn đầy sức sống.

• Hình tượng thơ sự vận động hướng về sự sống, ánh sáng, chắt lọc những ấn tượng, đa nghĩa.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 04

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

(…)Trong một bài viết trên CNN, Jay Parini, giảng viên Đại học Middlebury, Mỹ, cho rằng trong suốt

hai tuần tìm kiếm và cứu nạn ở hang Tham Luang, các thợ lặn không chỉ thể hiện sự can đảm tuyệt vời mà

còn cả những kỹ năng đáng kinh ngạc. Khó thể tưởng tượng được mức độ khó khan của công việc giải

cứu, khi các hoạt động phải tiến hành sâu dưới lòng đất, trong những ngách hang vô cùng hẹp đầy vách đá

lởm chởm, dòng nước chảy xiết và nước đục đến mức gần như không thấy gì. Bảy nước bao gồm Anh, Mỹ,

Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Myanmar, Lào đã cử các chuyên gia đầy kinh nghiệm tới trợ giúp Thái

Lan, khiến số người tham gia chiến dịch giải cứu lên đến hơn 1.000 người. Nỗ lực này cho thấy thế giới vào

một thời điểm nào đó hoàn toàn thể hợp tác tích cực vì mục tiêu chung. Trong hang Tham Luang không

sự phân biệt màu da, quốc tịch, tôn giáo hay giới tính, cũng không sự nghi ngờ về chuyên môn của

nhau. Dù vẫn còn rào cản ngôn ngữ, đội cứu hộ đã làm việc một cách đoàn kết và đầy tình người, để hướng

tới mục tiêu cuối cùng là đưa các thiếu niên trở về cùng với bố mẹ. Theo Parini, việc tất cả đặt lợi ích của

những đứa trẻ lên đầu tiên là điều đáng ngưỡng mộ. Ai cũng từng mắc lỗi và đôi khi hang nghìn người phải

nỗ lực để bù đắp cho lỗi lầm đó. Dư luận Thái Lan và quốc tế hầu như không trách móc những đứa trẻ đi vào

hang Tham Luang trong mùa mưa, mở đầu cho một trong những chiến dịch cứu nạn quy mô nhất thế giới.

Mọi người dường như chỉ lo lắng cho sự an toàn của các em và chờ đợi từng cậu bé xuất hiện mà không quá

bận tâm đến chi phí giải cứu, bởi lẽ đó họ hiểu rằng giá trị mạng sống không thể đo đếm bằng tiền. Dư luận

cũng bày tỏ sự biết ơn đối với Saman Gunan, thợ lặn Thái Lan hy sinh hôm 6/7 do thiếu ôxy khi đang trên

đường ra khỏi hang Tham Luang. Việc anh sẵn sang đánh cược cả mạng sống vì nhóm thiếu niên là dấu ấn

đáng nhớ trong quá trình giải cứu, thể hiện long dung cảm chân chính, hoàn toàn không vụ lợi (…)

(Sức mạnh tình người trong cuộc giải cứu các thiếu niên Thái Lan mắc kẹt, Ánh Ngọc, trích từ

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/phan-tich/suc-manh-tinh-nguoi-trong-cuoc-giai-cuu-cac-thieu-nien-thailan-mac-ket-3774897.html)

Câu 1: Xác định hai phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn bản trên.

Câu 2: Vì sao Parini cho rằng: “khó thể tưởng tượng được mức độ khó khan của công việc giải cứu”?

Câu 3: Nêu nội dung của đoạn văn bản trên.

Câu 4: Anh (chị) rút ra thông điệp gì từ văn bản trên?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Từ đoạn văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của long

nhân ái trong cuộc sống.

Trang 1


Câu 2 (5,0 điểm):

Phân tích đoạn thơ sau:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Hãy liên hệ so sánh cách khắc họa khung cảnh thiên nhiên của đoạn thơ trên với khổ thở sau:

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

“Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…

Thuyền ai đậu bến song trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?”

-------------------- HẾT --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

(Tây Tiến, Quang Dũng)

(Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử)

Câu 1: Hai phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn bản trên: nghị luận, tự sự.(0.5đ)

Câu 2: Khó thể tưởng tượng được mức độ khó khan của công việc giải cứu vì công việc giải cứu các thiếu

niên Thái Lan mắc kẹt diễn ra trong điều kiện: sâu dưới lòng đất, trong những ngách hang vô cùng hẹp đầy

vách đá lởm chởm, dòng nước chảy xiết và nước đục đến mức gần như không thể nhìn thấy gì. (0.5đ)

Câu 3: Nội dung của văn bản:




Hành trình đầy khó khan, thử thách của hơn 1.000 nười (Thái Lan và các nước khác)nhằm tìm kiếm

và cứu nạn các thiếu niên bị mắc kẹt ở hang Tham Luang – Thái Lan trong suốt hai tuần.

Sức mạnh của tinh thần đoàn kết và long nhân đạo của nhân dân Thái Lan và thế giới trong cuộc giải

cứu các thiếu niên bị mắc kẹt.

Bày tỏ thái độ ngợi ca của tác giả trước sự giúp đỡ của ạn bè quốc tế đới với chiến dịch giải cứu ở

Thái Lan. Đồng thời, thể hiện sự biết ơn sâu sắc đối với Saman Gunan – người đã hi sinh trong khi

làm nhiệm vụ cứu nạn. (1.0đ)

Câu 4: Thông điệp rút ra từ văn bản trên:



Con người ai cũng thể mắc sai lầm, điều quan trọng là hãy bao dung với những lỗi lầm đó.

Sống yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ những con người gặp hoàn cảnh khó khăn; đoàn kết với những

người xung quanh để tạo nên sức mạnh tập thể.(1.0đ)

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: Có thể nêu một số nội dung sau:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


Lòng nhân ái giúp những ngời đang gặp khó khăn thêm lòng tin vào người khác, vào cuộc sống.

Lòng nhân ái giúp con người xích lại gần nhau hơn.

Sống yêu thương là chúng ta làm giàu đẹp cho tâm hồn của chính mình, giúp chúng ta sống tốt và

hoàn thiện mình từng ngày.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: Phân tích đoạn thơ trong bài Tây Tiến. So sánh cách khắc họa khung cảnh thiên nhiên của

đoạn thơ trên với khổ thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Quang Dũng (1921 – 1988) là một người tài hoa. Thơ ông vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào

hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn. Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông

cũ), Quang Dũng nhớ lại những kỷ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết lên bài thơ này. Bài thơ lúc đầu

tên là Nhớ Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô (1986)

b. Phân tích đoạn thơ trong bài Tây Tiến



c. Đánh giá



Kỉ niệm đêm liên hoan: Được khắc họa với những nét tiêu biểu: ánh đuốc sáng rực rỡ, âm thanh

rộn rang trong nhạc khèn lên man điệu cùng vũ điệu nhịp nhàng e ấp bao điều chưa ngỏ của các

cô gái. Chỉ một phút dừng chân với rừng đêm mở hội mà dường như bao nhiêu khốc liệt, gian lao

đã trở thành dĩ vãng. Cả núi rừng và lòng người đang cùng hòa ca say sưa trong “hội đuốc hoa”

này.

Chặng đường qua Châu Mộc: Vẻ đẹp thơ mộng, mơ màng trong chiều sương của những bông

lau chập chờn, lay động, những ông hoa dập dềnh trên dòng nước lũ quyến luyến, tình tứ. Nổi lên

trên nền cảnh của bức tranh thiên nhiên thơ mộng là hình ảnh một dáng người trên con thuyền độc

mộc tạo thêm một nét đẹp rắn rỏi, khỏe khoắn làm cho bức tranh thiên nhiên nhiên thêm thơ

mộng, mềm mại, đẹp mơ màng.

Bức tranh khung cảnh trữ tình được khắc họa theo lối gợi nhiều hơn tả đã hòa lẫn cùng tình cảm

người đang xa cách càng trở nên ấn tượng và gợi cảm. Cảnh vật như đang đong đầy trong những

yêu thương lưu luyến, giúp ta thấy rõ hơn nét đẹp tâm hồn của tác giả nói riêng và những người

lính nói chung.

Kết hợp hài hòa bút pháp hiện thực và lãng mạn; ngôn ngữ giàu chất tạo hình và giàu tính nhạc

với âm điệu, nhịp thơ biến hóa linh hoạt.

d. Liên hệ so sánh

Giống:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION




Trong khung cảnh thiên nhiên hình ảnh của một vùng song nước đầy trữ tình, thơ mộng.

Cảnh được khắc họa từ dòng hoài niệm, từ đó cảm nhận được tình cảm lưu luyến của thi nhân với

vùng đất từng gắn bó.

Hình ảnh giàu sức gợi, đậm chất lãng mạn; sử dụng những câu hỏi tu từ mang đầy cảm xúc.

Trang 3


Khác:

TÂY TIẾN



Khung cảnh vùng sông nước đan cài trong hình ảnh đêm hội núi rừng đầy ấn tượng.

Khung cảnh tạo cho chủ thể trữ tình cảm xúc phong phú: vừa bừng lên vừa lắng xuống, vừa đầy

hứng khởi vừa mang mác bâng khuâng.


Câu hỏi tu từ được sử dụng để khơi gợi kỷ niệm, giọng thơ vừa nhẹ nhàng tha thiết vừa rộn rã

tươi vui.

ĐÂY THÔN VĨ DẠ




Khung cảnh mang đậm cái hồn của xứ Huế thơ mộng, trầm mặc.

Khung cảnh in đậm dấu ấn cảm xúc của chủ thể trữ tình: đầy khao khát nhưng cũng lắm buồn đau

trong mặc cảm chia lìa.

Câu hỏi tu từ, giọng thơ nhiều giục giã để tô đậm nỗi băn khoăn, khắc khoải; hình tượng thơ đa

nghĩa.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 05

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt mầm thứ nhất nói “Tôi muốn lớn lên

thật nhanh. Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua lớp đất cứng phía trên… Tôi

muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân… Tôi muốn cảm nhận sự ấm áp của

ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng trên cành lá”. Và rồi hạt mầm mọc lên.

Hạt mầm thứ 2 bảo: “Tôi sợ lắm. Nấy bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ

gặp phải điều gì ở nơi tối tăm đó. Và giả như những chồi non của tôi mọc ra, đám côn trùng sẽ kéo đén và

nuốt ngay lấy chúng. Một ngày nào đó, nếu những bông hoa của tôi thể nở ra được thì bọn trẻ con cũng

sẽ vặt lấy mà đùa nghịch thôi. Không, tốt hơn hết là tôi nên nằm ở đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn

đã”. Và rồi hạt mầm nằm im chờ đợi. Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy

hạt mầm lạc lõng trên mặt đất bèn mổ lấy ngay lập tức.

Câu 1: Chỉ ra hai biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 2: Vì sao hạt mầm thứ hai lại “nằm im và chờ đợi”?

Câu 3: Hình ảnh “chú gà” ở cuối truyện ý nghĩa gì?

(Câu chuyện của hai hạt mầm, Thảo Nguyên)

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với quan điểm “nằm ở đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn đã” của hạt

mầm thứ hai hay không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoản 200 từ nêu suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến”Lòng dung cảm –

chìa khóa của sự thành công trong cuộc sống”

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của sông Đà trong đoạn trích tùy bút Người lai đò sông Đà của

Nguyễn Tuân. Từ đó, liên hệ với bài thơ Tràng Giang của Huy Cận để làm rõ nét đặc sắc của hai tác giả

trong cách cảm nhận về vẻ đẹp của non sông, đất nước.

-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1:

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Trang 1


Hai biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản trên: Nhân hóa (hạt mầm thứ nhất nói, hạt mầm thứ hai

bảo), điệp ngữ (tôi muốn).

Câu 2:

Hạt mầm thứ hai “nằm im và chờ đợi” vì hạt mầm này lo sợ:




Câu 3:



Câu 4:

Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới sẽ gặp phải điều bất trắc ở nơi tối tăm.

Khi chồi non mọc ra, đám côn trùng sữ kéo đến và nuốt ngay

Nếu những bông hoa của hạt mầm thể nở ra được thì bọn trẻ con cũng sẽ vặt lấy mà đùa nghịch.

Hình ảnh “chú gà” ở cuối truyện ý nghĩa tượng trưng cho quy luật đào thải của cuộc sống.

Từ đó, câu chuyện nêu lên bài học: Nếu ta bằng lòng với cuộc sống đớn hèn, sợ hãi, sớm muộn ta

cũng sẽ bị đào thải.

Quan điểm trên hoàn toàn không chính xác, vì những nguyên nhân sau:




Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, sẽ những khó khăn, thử thách.

Con người sẽ trưởng thành khi đối diện và vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.

Sự hèn nhát không giúp con người trưởng thành mà là kẻ thù hủy hoại cuộc sống chính bạn.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1:

Có thể nêu một số nội dung sau:




Lòng dung cảm là cội rễ của mọi nguồn sức mạnh, giúp biến ước mơ thành hiện thực.

Dung cảm hướng con người đến cách sống tốt, giàu yêu thương, trách nhiệm với cộng đồng.

Dũng cảm giúp con người vượt lên nghịch cảnh, khó khăn để chứng tỏ bản lĩnh cá nhân.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2:

Phân tích vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của sông Đà trong đoạn trích tùy bút Người lái đò sông Đà.

Từ đó, liên hệ với bài thơ Tràng Giang để làm rõ nét đặc sắc của hai tác giả trong cách cảm nhận về vẻ

đẹp của non sông, đất nước.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suất đời đi tìm cái đẹp. Ông cũng là một nghệ

sĩ tài hoa, uyên bác, cá tính độc đáo, đặc biệt thành công ở thể loại tùy bút. Tác phẩm này được in trong

tập tùy bút Sông Đà, xuất bản đầu năm 1960, tất cả gồm 15 bài tùy bút. Đây à kết quả của nhiều dịp ông đến

với Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế năm 1958.

b. Bàn luận về vấn đề

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Khi nhà văn bay tạt ngang qua sông Đà, từ trên cao nhìn xuống, con sông hiện lên như một mĩ nhân

hiền dịu đầy xuân sắc với bao sắc màu biến đổi kỳ diệu: “mùa xuân dòng xanh ngọc bích”, “mùa thu

nước sông Đà lừ lừ chin đỏ”. Con sông tươi đẹp, sinh động biết bao chứ không phải là con sông đen

như “thực dân Pháp đã …gọi bằng một cái tên Tây láo lếu”.

Trang 2


Lần sau, khi đi xuyên rừng đến, Nguyễn Tuân ấn tượng với cái màu loang loáng của mặt nước và

ông bất chợt phát hiện trong cái lấp lánh ấy “sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Dường thi”. Bờ bãi

sông Đà rập rờn bay ao chuồn chuồn bươm bướm. Nhà văn vui sướng đắm say khi hội ngộ cùng con

sông; nỗi niềm ấu được ông ví von như niềm vui khi thấy “cái nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, “như

nối lại chiêm bao đứt quãng” thân thương, gần gũi trong cảm giác “đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố

nhân”


Một lần nữa khi thuyền trôi ven bờ, tác giả đã phát hiện được thêm bao nhiêu vẻ đẹp gợi cảm của

con sông: sự tĩnh lặng nhẹ nhàng với bao vẻ đẹp sinh động: đó là “nương ngô nhú lên mấy lá ngôn

non đầu mùa”, là “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, là “một đàn hươu cái đầu ngốn búp cỏ

gianh đẫm sương đêm”. Cảnh thiên nhiên cứ mở rộng dần bằng vẻ đẹp vừa hiện thực vừa biến ảo của

nó với cái nhìn đắm mình trong mơ mộng của nhà văn.

c. Đánh giá:

Nhà văn đã tô đậm vẻ đẹp của con sông với những so sánh, ví von, liên tưởng độc đáo, bất ngờ và rất

thú vị; từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và sức gợi cảm cao; câu văn đa dạng, giàu hình ảnh và

sức gợi cảm cao; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả gân guốc, khi thì chậm rãi trữ

tình.

d. Liên hệ so sánh

Giống:




Khắc họa ấn tượng vẻ đẹp của những dòng sông thân thuộc của quê hương.

Bộc lộ tình cảm yêu mến, tha thiết đối với thiên nhiên, với đất nước.

Vẻ đẹp của dòng sông được miêu tả bằng những hình ảnh phong phú, đa dạng cùng sự phát huy tối đa

giá trị các biện pháp tu từ.

Khác:

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ





Tái hiện vẻ đẹp con sông Đà với haia nét đặc trưng: thơ mộng trữ tình và hung bạo dữ dằn.

Lượng thông tin cung cấp về dòng sông khá chi tiết, cụ thể do đặc trưng của thể loại tùy bút.

Thể hiện sự say đắm, choáng ngợp, bị thu hút hoàn toàn bởi vẻ hấp dẫn kì thú của thiên nhiên.

Con sông Đà được tái hiện bằng những dòng văn ngôn từ độc đáo, phối hợp kiến thức đa ngành

của một cây bút tài hoa, uyên bác.

TRÀNG GIANG

NGUYEN THANH TU PRODUCTION



Gợi ra hình ảnh con sông Hồng với những đặc điểm sau: mênh mang hơn với những con song dối đầu

lên nahu và rong ruổi theo nhau tận chân trời; gợi cảm giác về sự chia lìa, trơ trọi, lạc lõng, ãi bờ

quạnh hiu, vắng vẻ, dù sự vật rất đa dạng và phong phú nhưng không khí đìu hiu, cô liêu, xa vắng,

hoang vu bao trùm.

Nổi bật trong bài thơ là nỗi buồn nhiều cung bậc, cộng hưởng nhiều nguyên nhân của cais tôi trữ tình

cô đơn, nhiều suy tư.

Trang 3


Vẻ đẹp của dòng sông được thể hiện bằng nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ

thống từ láy giàu giá trị biểu cảm; góp phần tạo nên vẻ đẹp cổ điện và hiện đại của bài thơ.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 06

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:

Rất nhiều người khác ở tuổi tôi đã chứng minh bản thân bằng sự liều lĩnh và chiêu trò bứt phá giới hạn.

Chinh phục một cung đường đầy nguy hiểm trong những đêm dài mệt mỏi, mù quáng lao ra đường đi đến

một nơi bất định và trở về an toàn. Liều lĩnh dẹp bỏ những luật chơi, bẻ gãy các cam kết, lao ra đường như

những con ngựa bất kham và làm những điều không ai ngờ đến. Anh hùng trở thành mệnh lệnh. Khao khát

khẳng định mình trở thành cơn đói chẳng bao giờ dứt.

Tôi đói khả ánh mắt thán phục của bạn bè xung quanh. Anh đói khát những tiếng trầm trồ đắm đuối của

các cô gái trẻ. Cô đói khát lời khen ngợi lấp lánh nơi những người xung quanh. Tuổi trẻ quay cuồng quanh

quỹ đạo của sự hào hoa, yêng hung và bứt phá giới hạn. Và rồi, chớp mắt giữa cuộc chinh phạt của những

chiến binh điên rồ đó, tôi chùn giáo gươm và hành trình ngông cuồng, khi thoáng tự hỏi mình làm như vậy vì

điều gì? Vì sao phải thể hiện? Vì sao phải gồng lưng chứng tỏ? Vì sao phải khoát một chiếc áo quá nặng lên

một thân thể yếu ớt và dễ tổn thương?[…] Tôi là ai giữa một ngàn người đứng trên sân trường ấy? Taai là ai

giữa hang chục ngàn bàn chân bước qua cuộc đời vô danh ấy? Câu hỏi đau đáu thôi thúc những hành động

cầu kỳ và tàn bạo – bất chấp cả sự sống để được biết đến. Nhưng hóa ra “làm chính mình” lại chỉ là một

ngọn đèn trang trí nhấp nháy. Sau tất cả, kẻ cuối cùng nhìn tôi trong gương chính là tôi. Tại sao tôi phải đập

nát chiếc gương đó để làm chính mình – như hào quang người khác muốn?

Câu 1: Xác định hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản trên.

(Ta bi quan không?, Khải Đơn)

Câu 2: Xác định biện pháp tu từ và nêu hiệu quả nghệ thuật trong câu sau: “Nhưng hóa ra “làm chính

mình” lại chỉ là một ngọn đèn trang trí nhấp nháy”.

Câu 3: Xác định tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện trong đoạn văn bản trên.

Câu 4: Anh (chị) rút ra thông điệp gì tự đoạn văn bản trên?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ nội dung văn bản phần đọc hiểu, anh (chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ

của bản thân về những điều tuổi trẻ cần thực hiện để khẳng định bản thân.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích vẻ đẹp từ góc nhìn cảnh quan thiên nhiên của sông Hương trong đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên

cho dòng sông? Của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó liên hệ so sánh với khổ thơ sau để làm nổi bật nét riêng

Trang 1


của các tác giả khi viết về thiên nhiên xứ Huế:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…

Thuyền ai đậu bến song trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?”

-------------------- HẾT --------------------

(Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử)

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0.5đ)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Hai thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản: Bình luận, chứng minh.

Câu 2: (0.5đ)



Câu 3: (1.0đ)

Biện pháp tu từ: So sánh

Hiệu quả nghệ thuật: Miêu tả sinh động, cụ thể tính hình thức, sự vô nghĩa của việc chứng tỏ bản

thân, sống thật với bản thân

Tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản trên:



Câu 4: (1.0đ)

Thông điệp:



Phê phán lối sống trọng hình thức cùng những ảo tưởng dại dột của một bộ phận giới trẻ.

Quan ngại sâu sắc khi những bạn trẻ những hành động liều lĩnh, ngông cuồng, ddien rồ để chứng

tỏ bản thân.

Nên chứng tỏ bản thân bằng những việc làm tích cực, ý nghĩa, vì bản thân trước tiên và trên hết.

Khẳng định bản thân không thể quan trọng bằng việc sống ích, sống chan hòa và cống hiến lặng

thầm.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2.0đ)

Có thể nêu một số nội dung sau:




Nỗ lực học tập, trau dồi tri thức, rèn luyện nhân cách để tạo nền tảng cho sự phát triển của bản thân.

Có chính kiến, quyết đoán, dũng cảm trong từng lựa chọn khác biệt.

Tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5.0đ)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích vẻ đẹp từ góc nhìn cảnh quan thiên nhiên của sông Hương. Từ đó liên hệ so sánh với

khổ thơ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ để làm nổi bật nét riêng của các tác giả khi viết về thiên nhiên xứ

Huế.

Trang 2


a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế, ông là một trong những nhà văn chuyên về bút ký.

Tác phẩm là bài bút ký viết tại Huế, ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng tên. Đây là một trong những tác

phẩm bút kí nổi tiếng của tác giả, gồm ba phần và đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

b. Bàn luận về vấn đề




Ở thượng nguồn: Sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu hùng

tráng, dữ dội: khi “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “mãnh liệt vượt qua những ghềnh thác”, khi

“cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”, lúc “dịu dàng và say đắm giữa những dăm dài

chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Sông Hương hiện ra tựa “cô gái Di-gan phóng khoáng và

man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” và cũng là “người mẹ phù sa

của một vùng văn hóa xứ sở”.

Suôi về đồng bằng: Sông Hương là “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng” giữa cánh đồng Chấu Hóa

đầy hoa dại; nhưng ngay sau khi ra khỏi vùng núi bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi

thanh xuân nên “chuyển dòng một cách liên tục”, rồi “vòng một khúc quanh đột ngột”, “vẽ một hình

cung thật tròn”, “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”, rồi “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành

quách”. Sông Hương lúc “mềm như tấm lụa” khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo; khi ánh

lên những mảng phản quang nhiều màu “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” lúc qua những dãy đồi núi

phía Tây nam thành phố, mang “vẻ đẹp trầm mặc” khi qua bao lăng tẩm, đền đài, tươi tắn và trẻ trung

khi gặp “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát

ngát tiếng gà”.

Khi chảy vào thành phố Huế: Sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của

vùng ngoại ô Kim Long” dòng sông “kéo một hướng thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông

bắc”, rồi “uốn một cánh cung rấ nhẹ sang đến cồn Hến” khiến “dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng

“vâng” không nói ra của tình yêu”. Sông Hương và những chi lưu của nó tạo những đường nét tinh tế

cho vùng đất cố đô. Vào Huế, con sông nhẹ nhàng như điệu slow chậm rãi, sâu lắng và là người tình

dịu dàng và chung thủy của Huế: “Rời khỏi kinh thành, sông Hương […] xa dần thành phố để lưu

luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như

sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẻ ngoặc sang hướng đông tây để gặp lại

thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh cổ xưa”. Con sông đã quay ngược về Huế như nàng Kiều

“trở lại tìm Kim Trọng” để nói lời thề trước lúc đi xa. Cũng theo tác giả, khúc quanh thật bất ngờ đó,

tựa như một “nỗi vương vấn”, và dường như còn cả “một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”

c. Đánh giá:

Vẻ đẹp sông Hương đã được khắc họa với văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa; ngôn từ

phong phú, gợi hình, gợi cảm; câu văn giàu nhạc điệu, các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, nhân hóa, so sánh

được sử dụng một cách hiệu quả.

d. Liên hệ so sánh

Giống:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION


Khắc họa thành công vẻ đẹp riêng rất hồn của dòng sông thân thuộc của quê hương.

Trang 3


Bộc lộ tình cảm yêu mến, tha thiết đối với thiên nhiên, với xứ Huế.


Vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên được miêu tả bằng những hình ảnh phong phú, đa dạng, gợi tả,

gợi cảm.

Khác:

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?



Tái hiện vẻ đẹp con sông Hương với những nét đặc trưng: khi hoang dại, đầy cá tính, lúc chậm

rãi khoan thai nhưng bao giờ cũng gắn chặt với thành phố Huế.

Lượng thông tin cung cấp về dòng sông khá chi tiết, cụ thể do đặc trưng của thể loại bút ký.


Con sông Hương được tái hiện bằng văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa; ngôn từ phong

phú, gợi hình, gợi cảm; câu văn giàu nhạc điệu.

ĐÂY THÔN VĨ DẠ




Vẻ đẹp của con sông hòa lẫn trong khung cảnh mang đậm cái bồn xứ Huế thơ mộng, trầm mặc.

Hình ảnh thiên nhiên in đậm dấu ấn cảm xúc của chủ thể trữ tình: đầy khao khát nhưng cũng lắm

buồn đau trong mặc cảm chia lìa.

Vẻ đẹp thiên nhiên được tái hiện những hình ảnh thơ đầy sang tạo, sự hòa quyện giữa thực và ảo;

bút pháp sự hòa điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn trữ tình.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 7

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Tôi chỉ muốn nhắn nhủ những bạn trẻ đang bơ vơ trên con đường cuộc sống rằng, nếu bạn đang phải trải

qua những ngày khốn khó, phải đương đầu với nghịch cảnh cuộc đời, thì đó thực sự là một món quà vô giá.

Có thể lúc đang khổ sở với những vấn đề của mình, ta chỉ mãi vật vã đau buồn. Nhưng sau này nhìn lại, ta sẽ

thấy rằng những khó khăn đã đương đầu giúp tạo nên câu chuyện của riêng ta.

Hãy lấy bộ truyện nổi tiếng thế giới Harry Potter làm ví dụ. […] Thế giới của phù thủy, đũa thần và chổi

bay thể không thật. Nhưng nỗi buồn và sự tuyệt vọng là thật. Cảm giác đau đớn và cô độc là thật. Sợ

hãi và mất mát là thật. Có ai trong chúng ta chưa từng một lần trong đời thức dậy mà không biết hôm nay

mình phải làm gì, nhìn mọi thứ xung quanh chỉ toàn màu xám và thấy mình đang lạc lối? Có ai sống trên đời

mà chưa biết đến khổ đau, chưa từng bị chối bỏ bởi người mình yêu thương, bởi gia đình hay xã hội? Những

nỗi đau trong câu chuyện đã kết nối người đọc với tác giả, kết nối người đọc với nhau, và góp phần làm nên

thành công của bộ truyện. Và những mất mát đau thương ấy chân thật, bởi vì được viết bởi một con người đã

nếm trải bao điều khốn khó của cuộc đời. […]

Vậy nên, nếu bạn đang phải vật lộn với cuộc sống, đang phải đấu tranh với những khó khăn trong đời, thì

hãy cảm ơn Thượng đế vì món quà của Người, hãy ôm ghì lấy cuộc đời bạn với tất cả những đớn đau khổ sở

của nó, và sống với tất cả sức lực và nhiệt huyết của bạn.

Câu 1: Xác định hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn bản.

(Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?, Rosie Nguyễn)

Câu 2: Theo tác giả, vì sao tác phẩm Harry Potter lại khả năng gây ấn tượng sâu sắc với độc giả?

Câu 3: Vì sao thể khó khăn và nghịch cảnh trong đời là “một món quà vô giá”?

Câu 4: Qua đoạn văn bản, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì đến người đọc?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ nội dung văn bản phần đọc hiểu, anh (chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ

của bản thân về những việc cần làm để vượt qua những khó khăn trong đời.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài) trong đêm tình

mùa xuân. Từ đó liên hệ với diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Liên khi đoàn tàu đi qua trong

truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam để nhận xét về nghệ thuật khắc họa nhân vật của hai tác giả.

-------------------- HẾT --------------------

Trang 1


I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu 1: Hai thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản: Bình luận, chứng minh.

Câu 2: Tác phẩm Harry Potter lại khả năng gây ấn tượng sâu sắc với độc giả vì:

● Thể hiện khá đầy đủ những cảm xúc, những hoàn cảnh phổ quát, cơ bản mà mỗi người đều từng nếm trải.

● Được viết ra rất chân thật, sinh động bởi một người từng đi qua nhiều mất mát đau thương, bao điều khốn

khó trong cuộc đời riêng.

Câu 3: Nguyên nhân:

● Khó khăn và nghịch cảnh sẽ giúp con người trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn sau những nỗ lực vượt qua

nó.

● Ngay trong khó khăn và nghịch cảnh vẫn tồn tại những cơ hội bất ngờ cho những ai được tinh thần

lạc quan, tự tin.

Câu 4: Thông điệp:

● Không nên khổ sở với những vấn đề của mình, vật vã đau buồn, than trách về những khó khăn gặp phải

trong đời.

● Vấn đề gì cũng hai mặt, quan trọng là sự tỉnh táo trong nhận thức và bình tĩnh trong xử lí.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: Có thể nêu một số nội dung sau:

● Cố gắng đương đầu trực diện với khó khăn chứ không nên tránh né.

● Nhận thức đầy đủ về mức độ của khó khăn để cân nhắc năng lực, hoàn cảnh của bản thân.

● Nếu khó khăn vượt quá khả năng của bản thân nên kêu gọi sự hỗ trợ từ người khác.

● Dù trong hoàn cảnh nào vẫn nên lạc quan, xem khó khăn như một cơ hội để hoàn thiện bản thân.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: Phân tích diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Mị. Từ đó liên hệ với nhân vật Liên khi

đoàn tàu đi qua trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam để nhận xét về nghệ thuật khắc họa

nhân vật của hai tác giả.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Tô Hoài là một nhà văn lớn của dân tộc. Ông vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của

nhiều vùng khác nhau trên đất nước. Truyện ngắn này được sáng tác năm 1952 trích trong tập Truyện Tây

Bắc. Đó là kết quả chuyến đi dài tám tháng cùng bộ đội tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc của tác giả.

Từ đó, ông đã phản ánh chân thực và đầy xúc động cuộc sống bị áp bức và quá trình vùng lên đấu tranh của

nhân dân nơi đây thông qua số phận của những con người tiêu biểu như Mị, A Phủ.

b. Bàn luận về vấn đề

Yếu tố tác động: Mùa xuân về, thiên nhiên đất trời thay đổi, không khí đón Tết náo nức (đối lập với không

gian sống và tâm trạng của Mị), đặc biệt là tiếng sáo gọi bạn vang lên khiến sức sống trong Mị trỗi dậy.

Diễn biến tâm trạng, hành động

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

● Khi nghe tiếng sáo vọng lại, Mị bừng tỉnh, thoát khỏi trạng thái vô cảm bấy lâu nay.

● Sau đó, Mị “nhẩm thầm bài hát” của người đang thổi sáo và lấy rượu uống.

Trang 2


Từ lúc ấy, “lòng Mị đang sống về ngày trước”, sức sống trong Mị bắt đầu hồi sinh

● Mị đã nhận thức ra vấn đề mình vẫn còn là con người, vẫn còn quyền sống của một con người, Mị ý thức

được mình rất cần hạnh phúc.

● Khi lòng khao khát sống hạnh phúc trào dâng cũng là lúc Mị nhận ra được nỗi tủi nhục, bất hạnh của mình.

● Lòng yêu đời, yêu cuộc sống, khao khát hạnh phúc, tự do trỗi dậy mãnh liệt trong Mị. Do đó, Mị đã hành

động nhanh chóng chuẩn bị đi chơi.

Kết quả:Khi A Sử về, thấy Mị chuẩn bị đi chơi, hắn đã thẳng tay vùi dập Mị tàn tệ. Lúc đầu, Mị không hề

phản ứng. Nhưng rồi khi “vùng bước đi” mà “chân tay đau không cựa được”, chính lúc ấy, Mị trở về với

thực tại đắng cay.

c. Đánh giá

● Tác giả đã trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên với ngôn ngữ sinh động,

chọn lọc, sáng tạo; câu văn giàu tính tạo hình và đậm chất thơ.

● Diễn biến tâm lí và hành động của Mị đã thể hiện một tâm hồn khao khát hạnh phúc, một sức sống tiềm

tàng mãnh liệt; bên cạnh đó cũng thể hiện lòng nhân đạo của nhà văn.

d. Liên hệ so sánh

Giống:

● Chú ý khai thác thế giới nội tâm phong phú, chiều sâu của nhân vật.

● Diễn biến tâm trạng, hành động được khơi gợi từ những tác nhân cụ thể, giàu ý nghĩa.

● Góp phần tạo nên chất thơ cho truyện ngắn.

Khác:

NHÂN VẬT MỊ

● Diễn biến tâm lí và hành động của Mị đã thể hiện một tâm hồn khao khát hạnh phúc, một sức sống tiềm

tàng mãnh liệt.

● Miêu tả sự đan xen giữa hành động và tâm lí với những bước chuyển bất ngờ.

NHÂN VẬT LIÊN

● Diễn biến tâm lí và hành động của Liên đã thể hiện sự nhạy cảm, tinh tế của một cô bé lớn trước tuổi,

nhiều suy tư.

● Miêu tả tập trung vào tâm lí với những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 8

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Có một lần, tôi cắm trại trên đồi cao cùng một nhóm bạn. Chúng tôi đốt lửa trại và hai người mang

trống và đàn guitar ra. Họ nói: “Chúng tôi sẽ hát, nhưng giờ tất cả hãy để điện thoại và máy tính vào đây!”.

Nói rồi, cậu ấy chìa ra cái túi đựng đàn mở ngỏ. Cả đám miễn cưỡng để mớ màn hình lấp lánh vào. Đêm ấy,

chúng tôi nghe hát và trò chuyện đến gần ba giờ sáng mới về lều ngủ. Tiếng hát như sương khuya, như cỏ

rung động, thư thả tự nhiên và nhỏ từng giọt cồn say vào những lon bia cả bọn uống. Không màn hình di

động nào phát sáng (vì đã úp hết xuống thùng đàn), không tiếng nhạc chuông cắt ngang, không chụp

ảnh và quay phim, cũng chẳng ghi âm bất cứ thứ gì. Tôi bị xúc động vì cả một đêm nhìn lửa cháy và thầm thì

trò chuyện. Tôi say mèm và ngủ thiếp đi trong tiếng kêu của ễnh ương, dế mèn bên căn lều nhỏ. […]

Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ đêm cắm trại đó. Nó in đậm trong tim, trong sự rung động của âm thanh

mà tôi nuốt trọn. Chẳng sự đa nhiệm nào tồn tại. Chúng tôi không thể nghe thấy bạn hát khi đang kiểm tra

tin nhắn, không thể nghe ễnh ương kêu khi đang bận giật mình vì tiếng “ting” bé nhỏ vô vị của âm báo,

chẳng thể nào nhớ lửa đã nóng, sương đã giá lạnh trên đầu nếu cả bọn đang mải cầm điện thoại quay phim

người hát. Tệ hơn, chúng tôi sẽ không biết bạn ca sĩ đang hát gì nữa vì đang mê mải thao tác trên màn hình

sáng lấp lánh.

Mắt người kỳ diệu hơn bất kỳ chiếc camera nào. Tai người hoàn hảo hơn bất kỳ chế độ ghi âm phức tạp

nào. Nhưng hơn hết, chúng ta đa nhiệm vì quá vội vàng, gấp gáp và tham lam. Ta tưởng mình thể quán

xuyến cả thế giới trong một nốt nhạc. Ta tưởng mình ghi trọn mọi khoảnh khắc bằng cách lăm lăm điện thoại

trong tay và phớt lờ những giác quan khác.[…]

Ta phóng đại sự mù lòa lên như một tính năng: Đa nhiệm!

(Ta bi quan không?, Khải Đơn)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên.

Câu 2: Nguyên nhân nào đã khiến tác giả luôn xúc động khi nhớ về những kỉ niệm trong đêm cắm trại?

Câu 3: Xác định nội dung của văn bản.

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với ý kiến: “Mắt người kỳ diệu hơn bất kỳ chiếc camera nào. Tai người hoàn

hảo hơn bất kỳ chế độ ghi âm phức tạp nào” hay không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về ý nghĩa của việc không

phụ thuộc, dành nhiều thời gian cho các thiết bị công nghệ điện tử.

Trang 1


Câu 2 (5,0 điểm):

Phân tích diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Phùng (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh

Châu) khi nhìn thấy chiếc thuyền ngoài xa và chưng kiến bi kịch gia đình ngư dân. Từ đó liên hệ với diễn

biến tâm trạng, hành động của nhân vật viên quản ngục ở cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù

của Nguyễn Tuân để nhận xét về nghệ thuật khắc họa nhân vật của hai tác giả.

-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu 1: Phong cách ngôn ngữ của văn bản: Chính luận.

Câu 2: Nguyên nhân khiến tác giả luôn xúc động khi nhớ về những kỉ niệm trong đêm cắm trại: Những

người bạn những trải nghiệm sống động, được giao cảm thật sự, không còn khoảng cách bởi sự chen

ngang của những thiết bị công nghệ điện tử.

Câu 3: Nội dung của văn bản:

● Kể lại kỉ niệm đầy thú vị, ý nghĩa trong đêm cắm trại trên đồi cao với những người bạn.

● Trình bày quan điểm: Nếu lệ thuộc vào các thiết bị điện tử, con người sẽ dần trở nên vô cảm, xa cách, giác

quan kém tinh nhạy, cuộc sống mất đi hết sự thú vị.

Câu 4: Ý kiến trên hoàn toàn xác đáng, vì những nguyên nhân sau:

● Thiết bị chỉ thể lưu trữ, thu phát nhưng không thể dẫn truyền cảm xúc.

● Mọi âm thanh, hình ảnh chỉ ý nghĩa khi được giác quan nắm bắt và cảm nhận.

● Không thiết bị nào tinh nhạy, khiến mọi hình ảnh và âm thanh của cuộc sống trở nên sống động và chân

thực như đôi mắt, đôi tai của con người.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: Có thể nêu một số nội dung sau:

● Có được niềm vui khi phát hiện khám phá cuộc sống đầy sinh động, thú vị nhờ giác quan tinh nhạy.

● Con người sẽ bớt vô cảm, thêm nhiều thời gian dành cho nhau, những khoảng cách giữa người với

người sẽ không còn.

● Nhận thức được bài học giản đơn nhưng giá trị: thiết thực bị công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ, không

thay thế được tất cả.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: Phân tích diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Phùng. Từ đó liên hệ với diễn biến tâm

trạng, hành động của nhân vật viên quản ngục để nhận xét về nghệ thuật khắc họa nhân vật của hai

tác giả.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam

thời kì đổi mới với tất cả tâm huyết, tài năng cũng như khát vọng sáng tạo chân chính và bản lĩnh dũng cảm.

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được ông sáng tác năm 1983, in lần đầu trong tập Bến quê (1985), sau

được in riêng thành tập Chiếc thuyền ngoài xa. Truyện ngắn này tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học

Việt Nam thời kì đổi mới.

Trang 2


. Bàn luận về vấn đề

● Sau mấy ngày không tìm ra góc ảnh đẹp, ưng ý. Cuối cùng anh đã chụp được khoảnh khắc trời cho nơi

vùng biển hoang sơ này, đó là một tác phẩm đích thực của một tâm huyết lao động nghệ thuật công phu. Tấm

hình chiếc thuyền ngoài xa là thành tựu cả đời nghệ sĩ, là khoảnh khắc quý giá một đi không trở lại, một

khoảnh khắc bùng phát của niềm đam mê sáng tạo. Anh đã bắt gặp cái tận thiện, tận mĩ, thấy tâm hồn mình

như được gột rửa, trở nên thât trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời.

● Ở một không gian gần hơn, thật hơn, Phùng chứng kiến tận mắt một sự thật nghiệt ngã diễn ra trong một

gia đình ngư dân. Từ đó Phùng rơi vào trạng thái tâm lí lưỡng phân, chưa hết tự hào, choáng ngợp trước vẻ

đẹp toàn bích của nghệ thuật thì đã phải ngỡ ngàng, trăn trở biết bao nhiêu vì sau vẻ đẹp ấy là cuộc sống tù

đọng, quẩn quanh, bế tắc trong đói nghèo, lạc hậu, bạo hành của những người ngư dân.

● Anh đã không thể chịu được bao điều ngang trái xảy ra trước mắt nên đã can thiệp vào câu chuyện gia đình

họ. Một người nhạy cảm như Phùng tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra ngay sau cảnh đẹp chiếc

thuyền ngoài xa là sự bạo hành của cái xấu, cái ác. Do vậy, việc anh vứt máy ảnh xông ra can thiệp chính vừa

là phản ứng tất yếu của một người tốt, trách nhiệm khi chứng kiến điều ác xảy ra cũng vừa khẳng định anh

là một người nghệ sĩ sẵn sàng quên đi nghệ thuật để hết lòng vì cuộc đời.

c. Đánh giá

● Xét vai trò trong cốt truyện, Phùng chính là kiểu nhân vật tư tưởng, loại nhân vật mang bóng dáng của nhà

văn, thể hiện sự trăn trở của nhà văn về việc đổi mới tư duy nghệ thuật, về thiên chức của người nghệ sĩ và về

cuộc đấu tranh với chính mình để hoàn thiện nhân cách.

● Nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo, ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống; tác giả lựa chọn

ngôi kể, điểm nhìn thích hợp làm cho câu chuyện trở nên khách quan, chân thực và đầy thuyết phục.

d. Liên hệ so sánh

Giống:

● Đều là những người niềm đam mê đặc biệt với cái đẹp, sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức sau cuộc

gặp gỡ tình cờ, đặc biệt.

● Tính cách được thể hiện sâu sắc, ấn tượng khi đặt trong tình huống đặc biệt.

● Ít nhiều mang hình bóng của tác giả trong tác phẩm, góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của tác giả.

Khác:

NHÂN VẬT PHÙNG

● Là một người nghệ sĩ trách nhiệm với nghề và giàu lòng trắc ẩn.

● Miêu tả chủ yếu nhấn mạnh vào tâm trạng, cảm xúc.

● Tính cách được thể hiện trong tình huống nhận thức độc đáo.

● Tên nhân vật khơi gợi nhiều ý nghĩa thú vị.

NHÂN VẬT VIÊN QUẢN NGỤC

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

● Tồn tại trong hai mặt đối lập: con người bổn phận và con người nghệ sĩ.

● Miêu tả chủ yếu nhấn mạnh vào hành động, góp phần tô đậm vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao.

Trang 3


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 9

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Steve Jobs luôn mặc những bộ quần áo giống nhau. Một chiếc áo đen cổ lọ của Issey Miyake, chiếc quần

Levi 501, và đôi giày thể thao của New Balance. Dù trong các sự kiện truyền thông, ông cũng luôn mặc như

vậy. Nhà sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg, luôn mặc áo phông xám. Einstein luôn mặc cùng một kiểu áo

khoác. Những con người vĩ đại, nổi tiếng ấy luôn tiết kiệm thời gian chọn đồ hay chạy theo trào lưu mỗi ngày

để tập trung cho những việc quan trọng. Với họ, số lượng quần áo đủ để sinh hoạt là không nhiều. Họ chỉ

chọn những bộ quần áo hợp với mình nhất và lúc nào cũng biến những bộ quần áo của mình thành đồng

phục.

Cá tính tôi muốn nói ở đây khác với những biểu hiện của giới trẻ hiện nay như: nhuộm tóc xanh đỏ, bấm

khuyên lưỡi, là con trai nhưng mặc váy hoặc gắn quá nhiều thứ lên vỏ điện thoại. Những người sống tối giản

mà tôi đã gặp, dù họ đồng phục hóa quần áo của mình hay không, dù cuộc sống rất bình thường đi

chăng nữa, thì với tôi họ cũng rất cá tính. Có lẽ, bạn sẽ cảm giác khi vứt bớt đồ cũng là vứt luôn dấu ấn

riêng của mình. Nhưng thực tế lại ngược lại. Ví dụ với những hình ảnh của châu Âu trước đây. Bạn thấy ai

cũng mặc vest như nhau, đội mũ giống nhau và cùng hút thuốc lá. Tất cả mọi người hầu như đều ăn mặc

hoặc đồ đạc giống nhau. Tuy nhiên, những tác phẩm văn học, những tác phẩm nghệ thuật họ làm ra

tác phẩm nào là không dấu ấn riêng đâu. Nếu thử ngẫm một chút, bạn sẽ thấy thứ tạo nên con người, dấu

ấn của chúng ta không phải là đồ vật mà là “trải nghiệm”. Và lẽ, những người sống tối giản, coi trọng

trải nghiệm hơn vật chất luôn là người sống cá tính.

Câu 1: Xác định hai phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên.

(Lối sống tối giản của người Nhật, Sasaki Fumio)

Câu 2: Theo tác giả, điểm chung trong phong cách ăn mặc của Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Einstein là

gì?

Câu 3: Vì sao tác giả lại cho rằng: “những người sống tối giản, coi trọng trải nghiệm hơn vật chất luôn

là người sống cá tính”?

Câu 4: Anh (chị) rút ra thông điệp gì từ văn bản trên?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của bản thân về những điều tuổi trẻ

cần thực hiện để tạo nên cá tính riêng.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 1


Phân tích thủ pháp đối lập tương phản trong việc xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu qua truyện

ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Liên hệ với truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân để so sánh về cách

các tác giả phát huy giá trị của thủ pháp đối lập tương phản.

-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Câu 1: Hai phương thức biểu đạt được sử dụng: Nghị luận, tự sự.

Câu 2: Điểm chung trong phong cách ăn mặc của Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Einstein là:

● Họ luôn chọn những bộ quần áo phù hợp với mình.

● Họ đồng phục hóa quần áo hàng ngày để tiết kiệm thời gian.

Câu 3: Nguyên nhân tác giả lại cho rằng: “những người sống tối giản, coi trọng trải nghiệm hơn vật chất

luôn là người sống cá tính”:

● Trải nghiệm giúp ta sống sâu hơn và kinh nghiệm cảm xúc, tập trung hơn vào những công việc cần

thiết, từ đó dễ tạo nên cá tính riêng.

● Vật chất suy cho cùng cũng chỉ là hình thức, ý thức sở hữu càng cao, khao khát càng nhiều càng khiến bản

thân thêm mệt mỏi và áp lực.

Câu 4: Thông điệp rút ra từ văn bản:

● Cá tính, dấu ấn bản thân luôn được tạo ra và ghi nhận với những cống hiến, những thành tựu cụ thể chứ

không phải bằng hình thức bề ngoài.

● Trong cuộc sống cần coi trọng sự trải nghiệm vì nó mang đến những bài học thực tiễn, giúp ta vượt lên bản

thân, đón nhận bao điều mới mẻ, giá trị bền vững.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: Có thể nêu một số nội dung sau:

● Gia tăng trải nghiệm để bồi đắp vốn sống, thử thách bản thân.

● Không ngại khám phá, mở lòng với cái mới, tiếp biến văn hóa để hình thành nét riêng.

● Tự tin, dũng cảm chọn lối đi riêng, thể hiện chính kiến, chủ động tạo ra những cơ hội cho bản thân.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: Phân tích thủ pháp đối lập tương phản trong việc xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu

qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Liên hệ với truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân để

so sánh về cách các tác giả phát huy giá trị của thủ pháp đối lập tương phản.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam

thời kì đổi mới với tất cả tâm huyết, tài năng cũng như khát vọng sáng tạo chân chính và bản lĩnh dũng cảm.

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được ông sáng tác năm 1983, in lần đầu trong tập Bến quê (1985), sau

được in riêng thành tập Chiếc thuyền ngoài xa. Truyện ngắn này tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học

Việt Nam thời kì đổi mới.

b. Bàn luận về vấn đề

giải:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 2


● Đối lập – tương phản là một biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong những sáng tác theo khuynh

hướng lãng mạn hoặc giàu tính triết lí. Sự vật, hiện tượng trong những tác phẩm này được đặt trong mối

tương quan khác biệt, mâu thuẫn để làm rõ nội dung tư tưởng hoặc hiện thực hóa ý đồ nghệ thuật của nhà

văn.

● Với truyện ngắn này, trong việc khắc họa nhân vật, thủ pháp đối lập – tương phản được thể hiện trên 2

phương diện (ngoại hình – phẩm chất, nhận thức ban đầu – nhận thức cuối cùng).

Biểu hiện:

● Giữa ngoại hình (thân hình “cao lớn với những đường nét thô kệch”, “rỗ mặt”, xuất hiện với “khuôn mặt

mệt mỏi”), hành động (“chắp tay vái lấy vái để” đứa con khi nó xông vào đánh cha; khi đến gặp chánh án lộ

rõ vẻ “sợ sệt, lúng túng”, dù “trong gian phòng đầy bàn ghế” nhưng vẫn “tìm đến một góc tường để ngồi”;

khi chánh án mời bà “mới dám rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại”; khi được vị

chánh án khuyên hãy li hôn, bà “hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vái lia lịa” và nói: “Quý tòa bắt

tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”; thậm chí những suy nghĩ rất tiêu cực) và

phẩm chất (giàu đức hi sinh khi chấp nhận người chồng vũ phu; vẫn chắt lọc những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi

khi “nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…”; chứng tỏ được sự từng trải, sâu sắc trong câu chuyện với

Đẩu) của nhân vật người đàn bà.

● Trong quá trình nhận thức của nhân vật:

- Trước đó, Phùng nhìn đời bằng con mắt của một người nghệ sĩ nhiều rung động, say mê trước vẻ đẹp trời

cho của con thuyền trên biển lúc sớm mai với những giây phút thăng hoa nhất của cảm xúc. Sau đó, hiện thực

tăm tối gắn với bi kịch gia đình ngư dân ập đến trước mắt anh và sau này, thông qua câu chuyện của người

đàn bà kể, anh càng thấm thía và hiểu sâu hơn về nhiều điều.

- Đẩu hào hứng và tin tưởng vào thiện chí của mình nên khuyên người đàn bà li hôn. Nhưng câu chuyện và

những lí lẽ của bà đã thức tỉnh anh, khiến anh nhận ra những nghịch lí mà con người phải chấp nhận. Từ đó

anh thấy rằng lòng tốt, nhiệt tình là cần thiết nhưng chưa đủ; muốn giải quyết triệt để một vấn đề nhân sinh

phải xem xét mọi mối quan hệ phức tạp ràng buộc và phải giải pháp thiết thực mới giúp con người thoát

khỏi những khổ đau, tăm tối.

c. Đánh giá

● Góp phần thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời.

● Nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo, ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống; tác giả lựa chọn

ngôi kể, điểm nhìn thích hợp làm cho câu chuyện trở nên khách quan, chân thực và đầy thuyết phục.

d. So sánh

Giống:

● Phát huy giá trị trong việc khắc họa nhân vật.

● Góp phần làm rõ tình huống độc đáo của tác phẩm.

● Tô đậm, củng cố quan điểm nghệ thuật của nhà văn thể hiện trong tác phẩm.

Khác:

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

● Yếu tố tương phản: vẻ đẹp chiếc thuyền – bi kịch gia đình ngư dân, ngoại hình và phẩm chất của nhân vật,

nhận thức trước và sau của Phùng – Đẩu.

● Góp phần làm rõ tình huống nhận thức của tác phẩm.

Trang 3


● Tô đậm quan điểm nghệ thuật và bài học nhân sinh sâu sắc thể hiện trong tác phẩm.

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

● Yếu tố tương phản: hoàn cảnh – phẩm chất, bối cảnh cho chữ – ý nghĩa việc cho chữ.

● Góp phần làm rõ tình huống hành động – gặp gỡ bất ngờ, éo le của tác phẩm.

● Tô đậm quan điểm nghệ thuật (quan hệ tâm – tài, sáng tạo – phát hiện, giữ gìn).

● Thể hiện rõ đặc điểm của tác phẩm theo khuynh hướng lãng mạn.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 10

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Sự khác nhau cơ bản giữa người thực hiện được tầm nhìn và kẻ chỉ đứng xa xa mơ về tầm nhìn là ranh

giới mỏng manh giữa được và không được. Trong cuộc đời này, sẽ luôn luôn tồn tại những điều làm chúng ta

bận tâm, lo lắng nhưng chẳng bao giờ ảnh hưởng được. Nếu Singapore chỉ tập trung vào cái “không thể ảnh

hưởng” như thị trường nhỏ, dân số ít, không nguồn tài nguyên khoáng sản, bạn nghĩ là họ xây dựng

được đất nước mệnh danh là châu Âu giữa lòng châu Á? Thay vào đó, họ tập trung năng lượng tích cực

vào những điều họ “ thể ảnh hưởng được”. Họ nâng cao kỹ năng, kiến thức, và năng lực của bản thân

mình.

Hãy tập trung năng lượng tích cực vào những gì mình thể làm được. Khi năng lượng tích cực này

càng nhiều thì cái vòng tròn ảnh hưởng của bản thân mình sẽ ngày càng mở ra, mở ra. Đến một ngày nào đó

bạn sẽ ngỡ ngàng vì mình thể làm được nhiều thứ quá. Ngược lại, nếu cứ tập trung năng lượng xấu vào

những lý do thoái thác, vòng tròn ảnh hưởng của bạn sẽ ngày càng co lại, co lại. Đừng ngạc nhiên nếu một

sớm mai thức giấc, bạn bỗng thấy mình bất lực, thấy mình vô dụng, thấy mình vật vờ trôi trong cuộc đời này.

Vậy đó. Khó khăn thách thức trên đời không lúc nào là không tồn tại. Nhưng ai trong chúng ta cũng

quyền lựa chọn thái độ của bản thân mình. Tại một ngã rẽ nào đó của cuộc sống, ếch tôi đã chọn cho mình

cách mở mang vòng tròn ảnh hưởng. Và năng lượng tích cực của nó vẫn cứ mở ra, mở ra..

(Quảy gánh băng đồng ra thế giới, Nguyễn Phi Vân, Nxb Trẻ, tr 35-36, 2016)

Câu 1: Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 2: Dựa vào văn bản, anh (chị) hãy cho biết cách mà người Singapore đã làm để thực hiện hóa tầm

nhìn của mình.

Câu 3: Xác định tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản trên.

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với ý kiến của tác giả: “Khó khăn thách thức trên đời không lúc nào là

không tồn tại. Nhưng ai trong chúng ta cũng quyền lựa chọn thái độ của bản thân mình” không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về ý nghĩa của việc mở rộng

“vòng tròn ảnh hưởng” của bản thân.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích vẻ đẹp nhân cách của nhân vật Trương Ba thể hiện qua đoạn đối thoại với nhân vật Đế Thích

trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong truyện

Trang 1


ngắn cùng tên của Nam Cao để so sánh về cách xây dựng nhân vật của các tác giả.

-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Thao tác lập luận chính được sử dụng: Bình luận.

Câu 2: (0,5 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Cách người Singapore đã làm để thực hiện hóa tầm nhìn của mình:

• Họ tập trung năng lượng tích cực vào những điều họ thể ảnh hưởng được.

• Họ nâng cao kỹ năng, kiến thức, và năng lực của bản thân mình.

Câu 3: (1,0 điểm)

Thái độ của tác giả:

• Khẳng định tầm quan trọng của việc tập trung năng lượng tích cực vào những gì mình thể làm được.

• Phê phán những kẻ chỉ biết than vãn, thoái thác và không dám hành động, trải nghiệm, thử thách bản thân.

Câu 4: (1,0 điểm)

Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn, vì những nguyên nhân sau:

• Khó khăn thách thức là một phần tất yếu của cuộc sống mà ai cũng phải trải qua để được thành công.

• Thái độ của bản thân sẽ định hình con người bạn và góp phần quyết định việc bạn sẽ thành công hay thất

bại.

• Quyết định đương đầu cùng gian khó sẽ chứng tỏ được bản lĩnh cá nhân, khẳng định được sức mạnh nội

tại của bản thân.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Có thêm cơ hội để học hỏi và trải nghiệm.

• Mở rộng tầm nhìn và các mối quan hệ xã hội.

• Góp phần hoàn thiện bản thân, hướng tới việc lan tỏa những giá trị tích cực, bền vững đến cộng đồng.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích vẻ đẹp nhân cách của nhân vật Trương Ba thể hiện qua đoạn đối thoại với nhân vật Đế

Thích. Liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong truyện I cùng tên của Nam Cao để so sánh về cách xây

dựng nhân vật của các tác giả.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ

thuật Việt Nam hiện đại với hàng loạt những vở kịch gây chấn động dư luận. Tác phẩm là một trong những

vở kịch đặc sắc nhất của ông. Vở kịch sáng tác năm 1981, đến năm 1984 mới ra mắt công chúng. Đoạn trích

nằm ở cảnh VII và màn kết của tác phẩm.

Trang 2


. Bàn luận về vấn đề

• Hiểu thấu ý nghĩa của sự sống đích thực, luôn khát khao sống đúng với bản thân, không muốn sống

nhờ, sống gửi: Trương Ba không chấp nhận cảnh sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”; ông muốn

được sống theo đúng bản chất của mình: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” và thẳng thắn chỉ ra những sai lầm

của Đế Thích. Theo Trương Ba thì sự sống chỉ ý nghĩa khi chấm dứt tình trạng giả tạo, con người phải

sống đúng với mình, được sự hòa hợp toàn vẹn giữa linh hồn và thể xác.

• Nhân hậu, vị tha, giàu lòng tự trọng: Cái chết của cu Tị đã mở ra một lối thoát cho bao nhiêu bế tắc.

Nhưng Trương Ba nhận ra sẽ “bao nhiêu sự rắc rối” đang chờ; cũng như thật vô lí khi “một ông già gần

sáu mươi” được sống còn thằng bé “chưa bắt đầu cuộc đời, còn đang tuổi ăn, tuổi lớn, chạy nhảy vô tư” lại

phải chết. Ông cũng hình dung ra trước tương lai “bơ vơ lạc lõng, hoặc sẽ trở nên thảm hại đáng ghét” của

mình nếu chấp nhận đề nghị của Đế Thích. Và cuối cùng, ông đã từ chối quyền được tái sinh một lần nữa,

nhường quyền sống cho cu Tị.

c. Đánh giá

• Qua nhân vật, nhà văn cũng đã chuyển tải nhiều thông điệp nhân sinh quan trọng, ý nghĩa.

• Dựa vào cốt truyện dân gian, tác giả đã sáng tạo nên một nhân vật với hành động của nhân vật phù hợp với

hoàn cảnh, tính cách, thể hiện được sự phát triển tình huống kịch; ngôn ngữ nhân vật sinh động, gắn với tình

cảnh, tâm trạng cụ thể; giọng điệu biến hóa, lôi cuốn, đặc biệt những lời thoại vừa hướng ngoại lại vừa

mang tính chất hướng nội.

d. So sánh

* Giống:

• Đều là những người lao động vướng phải bị kịch tha hóa và hệ quả của bi kịch này là nỗi đau bị xa lánh/

ruồng bỏ.

• Nguyên nhân bi kịch một phần do yếu tố chủ quan tác động, dẫn đến kết cục không như ý.

• Dù trải qua nhiều thử thách nhưng luôn khao khát quay trở về với bản chất lương thiện.

• Tính cách được khắc họa qua những đoạn đối thoại và độc thoại nội tâm sâu sắc.

* Khác:

NHÂN VẬT TRƯƠNG BA

• Vướng phải bị kịch sống nhờ “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

• Nguyên nhân bị kịch phần lớn do sự tắc trách, vội vàng của quan thiên đình.

• Sự tha hóa khiến nhân vật đối diện với nỗi đau bị người thân xa lánh.

• Kết cục số phận gợi mở chiều hướng tích cực, đem lại ý nghĩa sâu sắc về nhân sinh.

• Là nhân vật kịch, được sáng tạo từ cốt truyện dân gian.

NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

• Bên cạnh bị kịch tha hóa là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bi kịch này kéo dài dai dẳng cả cuộc đời,

bị nhiều đối tượng ruồng bỏ.

• Nguyên nhân bị kịch phần lớn do không gian làng Vũ Đại với 2 nét đặc trưng (bị áp bức bóc lột tàn tệ và

ám ảnh nặng nề bởi định kiến).

• Kết cục cuộc đời theo chiều hướng tiêu cực, gợi mở sự bế tắc trong số phận người nông dân.

• Là nhân vật điển hình xuất sắc.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 11

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Muốn trở thành người giá trị, đầu tiên hãy làm cho mọi lời nói của bạn trở nên giá trị. Nếu bạn hứa sẽ

dạy đứa em học thêm toán, hãy làm điều đó. Nếu bạn hứa với ba mẹ sẽ đi chơi về đúng giờ, hãy về đúng giờ.

Nếu bạn hứa sẽ gặp ai đó, đừng quên mất họ. Khi bạn tự hứa sẽ không nói dối, không hút thuốc nữa... hãy cố

gắng bằng mọi cách để thực hiện nó. Bạn sẽ không thể sống thoải mái khi tâm khảm tự đánh giá mình là một

người thất hứa, một người không giữ lời, một người yếu đuối và vô trách nhiệm.

Không nhất thiết phải từ “tôi hứa” thì mới là lời hứa. Một câu nói, một câu khẳng định, lời đề nghị

trong câu chuyện thông thường đều thể xem như lời hứa. Việc thất hứa ảnh hưởng tới cách người khác

nhìn nhận và đánh giá về bạn. Hãy thử hứa gì đó và quên nó đi một vài lần, lời nói của bạn sẽ chẳng còn tý

giá trị nào với ai cả. Nhưng, nếu như bạn thể giữ đúng lời hứa, lời nói của mình, tôi dám chắc mọi lời nói

của bạn về sau đều trọng lượng và đáng giá. Giữ được lời hứa với mọi người, bạn sẽ lòng tin và đạt

được nhiều thứ khác nữa. [...]

Giữ lời hứa, chính là tạo dựng danh dự cho bản thân, thể hiện bạn là người tự trọng và tinh thần

trách nhiệm. Nuốt lời hay thất hứa, cũng giống như kẻ nói dối, kẻ ba hoa hay thùng rỗng kêu to vậy. Chẳng

ai đánh giá cao những người đó. Vậy nên, để khiến bản thân giá trị, hãy làm cho lời nói của bạn giá trị

như chính con người bạn.

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2: Văn bản đã chỉ ra việc thất hứa tác hại như thế nào?

Câu 3: Xác định nội dung của văn bản.

(Sống như ngày mai sẽ chết, Phi Tuyết, Nxb Thế giới, tr.86-88, 2017)

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với ý kiến: “Giữ lời hứa, chính là tạo dựng danh dự cho bản thân, thể hiện

bạn là người tự trọng và tinh thần trách nhiệm” không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về sức mạnh của niềm tin

trong cuộc sống.

Câu 2 (5,0 điểm):

Phân tích đoạn thơ sau:

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Trang 1


Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ.

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu, anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

(Tây Tiến, Quang Dũng)

Liên hệ với đoạn trích sau để so sánh về cách xây dựng hình tượng người lính:

“Ngoài cật một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi

nài sắm dao tu, nón gõ.

Hoa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay

cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống dục đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng

Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chăng .”

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận.

Câu 2: (0,5 điểm)

Việc thất hứa tác hại như sau:

-------------------- HẾT --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

• Khiến chúng ta không thể sống thoải mái với lương tâm của mình.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu)

• Lời nói của chúng ta sẽ chẳng còn chút giá trị nào với ai cả, mất lòng tin và nhiều thứ khác nữa trong mối

quan hệ với mọi người.

• Thể hiện bản thân là người thiếu tự trọng và không tinh thần trách nhiệm.

Câu 3: (1,0 điểm)

Nội dung của văn bản:

• Với những lí lẽ cụ thể, xác đáng, văn bản thể hiện quan điểm đúng đắn của tác giả về sức mạnh của lời hứa

trong việc xây dựng giá trị và niềm tin của mỗi con người.

• Qua đó, tác giả cũng khẳng định mỗi cá nhân cần coi trọng việc giữ lời hứa với mọi người, rèn luyện thói

quen dám chịu trách nhiệm với những hành động của mình.

Câu 4: (1,0 điểm)

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn, vì những nguyên nhân sau:

• Khi nói được làm được, lời nói của ta sẽ trọng lượng và đáng giá, sẽ nhận được sự tin tưởng của những

người xung quanh.

• Thực hiện lời hứa là cách chúng ta tôn trọng chính mình và tôn trọng người khác.

• Đây cũng là việc giúp chúng ta cam kết, đảm bảo danh dự và uy tín của cá nhân.

Trang 2


II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Niềm tin giúp ta xác định giá trị, năng lực của bản thân.

• Niềm tin là động lực giúp ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống, thêm sức mạnh để bảo

vệ, đấu tranh cho công lý, lẽ phải.

• Niềm tin giúp ta sống lạc quan, yêu thương và bao dung hon.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích đoạn thơ trong bài Tây Tiến. Liên hệ với đoạn trích trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để so

sánh về cách xây dựng hình tượng người lính.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Quang Dũng (1921 - 1988) là một người tài hoa. Thơ ông vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa,

phóng khoáng, đậm chất lãng mạn. Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), Quang

Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết lên bài thơ này. Bài thơ lúc đầu tên là Nhớ

Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô (1986).

b. Phân tích đoạn thơ

• Chân dung: Các chi tiết tả thực: “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” đã khắc họa được diện mạo rất độc

đáo, đồng thời phản ánh lại hiện thực một cách khá thi vị những cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật nơi chiến

trường miền Tây. Đối lập với vẻ ngoài ốm yếu, xanh xao đó là sức mạnh tinh thần ghê gớm - “dữ oai hùm” -

đầy mạnh mẽ, dũng mãnh.

• Tâm hồn hào hoa, lãng mạn, kiêu hùng: “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” đã tô đậm khí thế, quyết

tâm, mơ về Hà Nội với những giấc mơ hào hoa và lãng mạn như một động lực tiếp thêm sức mạnh cho họ

trên đường hành quân gian lao, giúp họ thể trụ vững trong hiện tại khốc liệt.

• Lí tưởng cao đẹp: Cách nói giảm nhẹ: “anh về đất” khiến ta cảm giác sự hi sinh thầm lặng mà cao cả,

cái chết nhẹ nhàng, thanh thản mà gây xúc động lớn lao trong lòng người, làm lay động cả thiên nhiên: “sống

Mã gầm lên khúc độc hành”.

c. Đánh giá

• Người chiến sĩ Tây Tiến hào hoa, anh dũng, kiêu hùng một thời đã gây nên một ấn tượng sâu sắc cũng như

một mối xúc động lớn lao trong tác giả và người đọc. Dẫu hình tượng ấy những hi sinh, mất mát nhưng

vượt lên tất cả vẫn là một khí phách hiên ngang, một khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp đáng trân trọng.

• Đoạn thơ tập trung vào khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến với cảm xúc bi tráng, bút pháp lãng mạn

nhưng không thoát li hiện thực.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Khắc họa ấn tượng, đầy xúc động hình ảnh người chiến sĩ dù còn nhiều gian khó, thiếu thốn nhưng vẫn nêu

cao ý chí chiến đấu, lí tưởng quên mình vì nước.

• Giọng điệu mang đậm âm hưởng anh hùng ca, sắc thái bi tráng với hình tượng trung tâm được lí tưởng

hóa.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 3


* Khác:

TÂY TIẾN

• Người lính buổi đầu kháng chiến chống Pháp xuất thân từ học sinh sinh viên, được khắc họa với 3 nét

tiêu biểu, mang vẻ đẹp hào hoa lãng mạn rất riêng.

• Hình ảnh vừa chân thực vừa mang tính ước lệ; biện pháp nói giảm nói tránh làm vợi bớt những đau thương

mất mát; giọng thơ linh hoạt phù hợp với từng nội dung thể hiện; thể thơ thất ngôn và hệ thống từ Hán Việt

được sử dụng làm tăng thêm tính trang trọng cho hình tượng trung tâm.

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

• Người nghĩa sĩ nông dân trong buổi đầu Pháp xâm lược, chủ yếu tô đậm tinh thần chiến đấu mạnh mẽ trong

khung cảnh đêm công đồn hùng tráng.

• Hình ảnh chân thực, sống động; giọng điệu gấp gáp, nhanh chóng phù hợp với khí thế chiến trận; biện pháp

liệt kê và thủ pháp tương phản đối lập phát huy tối đa giá trị trong việc khắc họa hình tượng trung tâm.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 12

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Có một cách để bạn thấy bất hạnh chỉ trong giây lát. Đó là so sánh mình với người khác. Bất kì ai dù vô

tình hay cố ý cũng lúc so sánh mình với người khác. Và vấn đề là việc so sánh này sẽ chẳng bao giờ kết

thúc cả. Có một người làm trong công ty kinh doanh mạng từ lúc công ty thành lập. Anh ta so sánh mình với

một đàn anh khác làm việc tốt hơn trong công ty. Đàn anh này lại so sánh mình với vị doanh nhân đã vực

dậy công ty. Vị doanh nhân nọ lại so sánh bản thân với vị doanh nhân của một doanh nghiệp hàng đầu. Vị

doanh nhân của doanh nghiệp hàng đầu lại so sánh mình với Bill Gates. Vậy, theo bạn Bill Gates sẽ so sánh

mình với ai? Có lẽ ông ấy sẽ so sánh với chính mình khi còn trẻ. Hoặc cũng thể ông ấy sẽ so sánh mình

với nhân viên vô danh trong công ty mới thành lập với tương lại đây triển vọng.

Việc so sánh với người khác là do xung quanh chúng ta luôn người giỏi hơn mình. Dù bạn nhiều tiền

đến đâu, đẹp trai đến đâu, xinh đến thế nào thì xung quanh bạn chắc chắn còn người hơn thế nữa. Dù bạn

là một trong các thần tượng của cả nước thì chắc chắn bạn cũng sẽ chút tự ti nếu so sánh bản thân với

Johnny Depp hay Brad Pitt. [...] Trước đây, khi so sánh bản thân với người khác, tôi lại thấy xấu hổ khi

mình đang sống trong ngôi nhà tồi tàn đến vậy. Rồi khi thấy những người thể mua thỏa thích những thứ

họ muốn, tôi lại thấy ghen tị trong lòng. Còn giờ đây, tôi đã nói lời tạm biệt với những cảm giác đó. Bởi tôi

không còn tham gia vào cuộc thithiên hạ đệ nhất” nào nữa rồi.

(Lối sống tối giản của người Nhật, Sasaki Fumio, Nxb Lao động, tr.188-190, 2017)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2: Dựa vào văn bản, anh (chị) hãy trình bày vắn tắt sự thay đổi trong nhận thức và hành động của tác

giả.

Câu 3: Theo tác giả, vì sao chúng ta luôn thích so sánh bản thân với người khác?

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với ý kiến của tác giả: “Có một cách để bạn thấy bất hạnh chỉ trong giây lát.

Đó là so sánh mình với người khác” không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về ý nghĩa của sự khác biệt.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Cảm nhận đoạn trích sau trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh:

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dấu ngược về phương nam

Trang 1


Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh - một phương

Ở ngoài kia đại dương

Trăm nghìn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn với cách trở

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xanh

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.”

Liên hệ đoạn trích trên với đoạn thơ sau trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu để so sánh về nét độc đáo

của mỗi nhà thơ trong cách thể hiện khát khao:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hồn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi,

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

-------------------- HẾT --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận.

Câu 2: (0,5 điểm)

Sự thay đổi trong nhận thức và hành động của tác giả:

Trước đây, tác giả thường cảm thấy xấu hổ và ghen tị khi so sánh bản thân với người khác, còn bây giờ, khi

ngừng so sánh bản thân với người khác, tác giả đã không còn những cảm giác đó nữa.

Trang 2


Câu 3: (1,0 điểm)

Theo tác giả, chúng ta luôn thích so sánh bản thân với người khác vì:

• Con người thường mang mặc cảm thua thiệt, tự ti, xấu hổ khi thua kém người khác.

• Xung quanh chúng ta luôn những người vượt trội hơn mình về mọi mặt.

Câu 4: (1,0 điểm)

Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn, vì những nguyên nhân sau:

• Việc so sánh bản thân với người khác thể tạo ra những cảm xúc tiêu cực: ghen ghét, đố kị... Đó đều là

những tính cách tiêu cực.

• So sánh mãi bản thân với người khác khiến con người lạc hướng thậm chí mất đi động cơ đúng đắn để phấn

đấu.

• Việc so sánh sẽ không bao giờ kết thúc nếu bạn không chấp nhận và hài lòng với những thứ đang thuộc về

mình.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Sự khác biệt làm cho cuộc sống thêm sắc màu và đa dạng.

• Sự khác biệt giúp bạn tạo nên dấu ấn phong cách cá nhân, mở ra lối đi riêng cho bản thân.

• Sự khác biệt trong suy nghĩ sẽ thúc đẩy khả năng sáng tạo của con người, mang đến những kết quả bất ngờ,

những giá trị vượt trội cho cuộc sống.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Cảm nhận đoạn thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh. Liên hệ với đoạn trích trong bài thơ Vội vàng

của Xuân Diệu để so sánh về nét độc đáo của mỗi nhà thơ trong cách thể hiện khát khao.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là nhà thơ nữ tiêu biểu cho những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. Ngay từ những tác

phẩm đầu tay nữ sĩ đã thể hiện một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi tắn của một trái tim phụ nữ hồn hậu,

chân thành, nhiều âu lo và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. Được sáng tác vào

ngày 29/12/1967 tại biển Diêm Điền (Thái Bình) trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, bài thơ này được in

trong tập Hoa dọc chiến hào, xuất bản năm 1968.

b. Cảm nhận đoạn thơ

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Hình tượng sóng gắn liền với lòng chung thủy sắt son: Khoảng không gian đặt ra trong khổ thơ nói lên độ

dài cách trở, gian lao của thực tế với con người. Phương hướng, khoảng cách đặt ra xa bao nhiêu thì lòng

người lại thể hiện rõ sự chung thủy bấy nhiêu - chỉ hướng về “một phương”. Câu thơ như một lời khẳng định

mạnh mẽ, dứt khoát. Khổ thơ đặt ra nhiều thử thách, nhiều cách trở nhưng cũng thể hiện được sự quyết tâm

của con người.

• Hình tượng sóng gắn liền với niềm tin và những âu lo trong tình yêu: Sau những say đắm, đam mê, trải

lòng theo nỗi nhớ, Xuân Quỳnh nhận ra một điều: tình yêu thăng hoa đến đâu chăng nữa cũng phải gắn với

cuộc đời, mà cuộc đời lại thường hay thay đổi. Chính vì vậy, người đang yêu phải đủ nghị lực, niềm tin để

vượt mọi bão giông, thử thách của đời thường. Một loạt các chi tiết tương phản được lặp đi lặp lại như đã nói

Trang 3


ở trên đã khẳng định niềm tin của nhà thơ vào sức mạnh và tương lai của tình yêu: dù muôn vàn khó khăn,

trở ngại thì đích đến cuối cùng của tình yêu vẫn là hạnh phúc.

• Hình tượng sóng gắn liền với khát vọng tình yêu vô biên, vĩnh hằng: Khổ thơ cuối thể hiện niềm mong

ước nhưng cũng là sự tự nhủ thầm đầy nữ tính: “em” muốn “tan ra”, hòa nhập vào muốn con sóng kia,

muốn cái tôi nhỏ bé hóa thành trăm con sóng giữa biển cả mênh mông. Nhân vật trữ tình như mong muốn

hòa lẫn với bể đời rộng lớn, bứt mình ra khỏi những nhọc nhằn, lo toan thường nhật để chìm ngập trong tình

yêu tuổi trẻ, trong ngọt ngào và hạnh phúc. Ước mong tồn tại vĩnh hăng trên cõi đời này thôi thúc, giục giã

đến không ngờ. Hình ảnh trong thơ đầy sức sáng tạo, tình yêu được ví như biển lớn mênh mông, tâm hồn xao

động mãnh liệt thành trăm con sóng cảm xúc vỗ miên man, bất tận. Lời thơ, nhịp thơ phần nhanh hơn,

mạnh hơn, gấp gáp hơn khiến bài thơ còn vang vọng mãi những khát khao.

c. Đánh giá

• Tình yêu được bộc lộ qua cặp hình tượng song hành, chuyển hoá lẫn nhau là sóng và em. Sóng vừa là hình

tượng vừa là biểu tượng cho tâm hồn và tình yêu của người phụ nữ.

• Thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp, phối âm tạo nên nhịp điệu khi khoan hoà khi dồn dập; ngôn ngữ thơ giản

dị, tự nhiên, giàu xúc cảm và được tổ chức theo lối hộ ứng, song hành tạo nên liên tưởng về những con sóng

trùng điệp miên man; giọng thơ vừa tha thiết vừa sâu lắng.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Ít nhiều đề cập đến khát khao mãnh liệt gắn với một đối tượng cụ thể.

• Hình tượng thơ đa nghĩa, sử dụng đa dạng các hình thức điệp khiến giọng thơ tha thiết, sôi nổi.

* Khác:

SÓNG

• Khát khao mãnh liệt hướng đến tình yêu đạt đến sự vô cùng vô tận.

• Cảm xúc thể hiện đa dạng, bộc lộ thế giới tâm trạng phức tạp của tình yêu đôi lứa.

• Hình tượng “sóng” chi phối cảm xúc và hình thức đoạn thơ: thể thơ năm chữ và cấu trúc cân xứng như

nhịp sóng vỗ bờ, kết cấu song hành phù hợp với nội dung thể hiện; giọng thơ vừa tha thiết vừa sâu lắng.

VỘI VÀNG

• Hướng đến khát vọng tận hưởng cuộc đời tươi đẹp và tình yêu tràn đầy.

• Cảm xúc biểu hiện đơn giản nhưng trữ lượng khát khao mạnh mẽ.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Hình tượng thơ phong phú, đa dạng; thể thơ tự do dạt dào cảm xúc, làn sóng điệp ngữ, điệp từ, liệt kê, động

từ, tính từ khiến nhịp thở thêm dồn dập, hối hả.

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 13

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Ai cũng thích sự an toàn, thích sự chắc chắn nhưng lại quên rằng thay đổi mới chính là an toàn. Ở trong

môi trường tất cả mọi thứ đều thay đổi, bạn cũng thay đổi, ấy mới là thuận tự nhiên. Thuận theo tự nhiên thì

an toàn hơn chống đối tự nhiên rất nhiều. Bởi vì sợ thay đổi nên mọi người sống một cuộc sống nhàm chán

giống nhau hết ngày này qua tháng khác mà không biết rằng khả năng thay đổi chính là khả năng tuyệt vời

nhất mà con người được. Các loài vật phải thay đổi bản thân nó cho phù hợp với hoàn cảnh sống nhưng

chỉ con người mới khả năng thay đổi hoàn cảnh sống để phù hợp với mình. [...]Hãy bắt đầu thay đổi từ

những cái nhỏ rồi sang cái lớn, từ cái dễ rồi sang cái khó hơn. Dần dà bạn sẽ phát hiện ra mình đang tự tạo

nên một phiên bản nâng cấp - đó là bước đầu tiên. Rồi từ một “chính mình” mới đó mà bạn khả năng để

tạo ra thay đổi cho xã hội bạn đang sống. Không gì là không thể.

Mọi thứ trên đời đều không ngừng thay đổi để tiến hóa. Chính bạn cũng đang tiến hóa mỗi ngày mà bạn

không nhận ra. Chỉ cần một tư duy khác đi, một suy nghĩ khác hơn về cuộc đời, về thế giới, về bản thân là

bạn đã tiến hóa hơn ngày hôm qua rồi. Lịch sử đã chứng minh loài nào tiến hóa nhanh nhất sẽ làm chủ muôn

loài, dân tộc nào tiến hóa nhanh nhất sẽ dẫn đầu các dân tộc khác và người nào tiến hóa nhanh hơn trong tư

duy và óc sáng tạo cũng đều là người tạo nên sự thay đổi cho thế giới. Vậy mà bạn vẫn còn sợ hãi và tránh

né khi nhắc đến thay đổi? Thật lạ lùng! Thay đổi chính là cách để chúng ta học hỏi những điều mới, chính là

bước đầu tiên trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, là khởi đầu để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên.

(Sống như ngày mai sẽ chết, Phi Tuyết, Nxb Thế giới, tr.34–35, 2017)

Câu 2: Theo tác giả, sự thay đổi những ý nghĩa gì cho bản thân và xã hội?

Câu 3: Vì sao tác giả cho rằng “thay đổi mới chính là an toàn”?

Câu 4: Anh (chị) nhận xét gì về nhan đề “Sống như ngày mai sẽ chết” của bài viết?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về những việc cần làm để tạo

nên sự thay đổi tích cực trong cuộc sống của bản thân.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích vẻ đẹp tài hoa trí dũng của người lái đò sông Đà trong đoạn trích tùy bút cùng tên của Nguyễn

Tuân. Liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù để thấy quan điểm thẩm mĩ độc đáo

của tác giả khi khắc họa nhân vật.

Trang 1


-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Phong cách ngôn ngữ của văn bản: Chính luận.

Câu 2: (0,5 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Theo tác giả, sự thay đổi giúp chúng ta thêm kiến thức, trải nghiệm mới mẻ cho bản thân và góp phần tạo

nên một thế giới tốt đẹp nhờ sự đóng góp tích cực của mỗi cá nhân.

Câu 3: (1,0 điểm)

Tác giả cho rằng “thay đổi mới chính là an toàn” vì:

• Theo quy luật tự nhiên, tất cả mọi thứ đều sẽ thay đổi theo thời gian, thay đổi là cách để con người sống

một cuộc đời thú vị và ý nghĩa hơn.

• Thay đổi giúp bạn tìm thấy động lực để phát triển và mở ra cơ hội để đạt được những thành tựu to lớn.

Câu 4: (1,0 điểm)

Nhận xét về nhan đề “Sống như ngày mai sẽ chết” của bài viết:

• Cách sử dụng từ ngữ của tác giả khá táo bạo, gây được ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc nhằm nhấn

mạnh thông điệp muốn chuyển tải.

• Qua nhan đề này, tác giả khẳng định cuộc đời con người vốn hữu hạn, ta không thể thay đổi số mệnh của

mình nhưng quyền quyết định cách sống và chất lượng sống bằng những thay đổi tích cực trong nhận thức

và hành động. Tác giả cũng muốn đưa ra lời khuyên: hãy đam mê, nhiệt huyết, tận hưởng và tận hiến để mỗi

phút giây trôi qua thật trọn vẹn và ý nghĩa, hãy mạnh dạn thay đổi để khám phá những giới hạn của bản thân,

phá vỡ những rào cản đã cố hữu trong suy nghĩ và hành động.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Trân trọng và sử dụng thời gian một cách hợp lý, khoa học.

• Loại bỏ những thói quen xấu, ngừng lo lắng, phiền não hay phán xét.

• Sống chậm để cảm nhận đi vào chiều sâu, thay đổi suy nghĩ theo hướng tích cực, yêu thương và độ lượng

hon.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích vẻ đẹp tài hoa trí dũng của người lái đò sống và trong đoạn trích tùy bút cùng tên. Liên hệ

với nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù để thấy quan điểm thẩm mĩ độc đáo của tác

giả khi khắc họa nhân vật.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông cũng là một nghệ sĩ tài

hoa, uyên bác, cá tính độc đáo, đặc biệt thành công ở thể loại tùy bút. Tác phẩm này được in trong tập tùy

bút Sông Đà, xuất bản lần đầu năm 1960, tất cả gồm 15 bài tùy bút. Đây là kết quả của nhiều dịp ông đến với

Trang 2


Tây Bắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp; đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế năm 1958.

b. Phân tích vẻ đẹp tài hoa trí dũng của người lái đò sông Đà: Thể hiện qua cuộc chiến đấu với ba vòng thạch

trận trên sông:

• Đối diện với ở vòng vây thứ nhất, người lái đò vẫn hết sức bình tĩnh, hiên ngang như một tướng soái phóng

thẳng thuyền vào kẻ thù. Trước những đòn thù tàn độc của đối phương ông đã “cố nén vết thương, hai chân

vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “giữ mái chèo khỏi bị hất lên” và sẵn sàng đối mặt, chiến đấu và chiến thắng lũ

giặc đá đông đảo, đầy chủ động, hiểm ác, ranh ma..

• Ở vòng vây thứ hai, người lái đò với đôi bàn tay linh hoạt, tài hoa của mình đã khéo léo điều khiển con

thuyền “bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía

cửa đá ấy”. Ông lái đò lúc “cưỡi lên thác”, lúc “nắm chặt được cái bờm sóng”, lúc thì “ghì cương lái”, lúc

thì ông tránh mà “rảo bơi chèo lên”, lúc thì “đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Cuối cùng, ông

đã chiến thắng cái lũ đá lúc này đang “tiu nghỉu cái mặt xanh lè” vì thất vọng.

• Ở vòng vây thứ ba, ông lái đò cứ anh dũng phóng thẳng thuyền, chọc thủng vào cửa giữa đó. Người lái đò

rất linh hoạt điều khiển “thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”, qua bao nhiêu cửa, “thuyền như một

mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”.

c. Đánh giá

• Ông lái đò được miêu tả như một người lao động dũng cảm lại vừa như một nghệ sĩ tài hoa của sông nước,

rất mực điệu nghệ trong công việc của mình với kinh nghiệm, sự ngoan cường, ý chí quyết tâm. Tất cả những

điều đó đã khẳng định ông đúng là chất vàng mười của Tây Bắc.

• Nhà văn đã tô đậm vẻ đẹp của nhân vật với những so sánh, ví von, liên tưởng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị;

từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và sức gợi cảm cao; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp

điệu, lúc thì hối hả gân guốc, khi thì chậm rãi trữ tình.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Nhà văn tiếp cận con người trên phương diện tài hoa nghệ sĩ nên các nhân vật đều là những nghệ sĩ trong

lĩnh vực hoạt động của mình. Đặc biệt, ông cũng đặt nhân vật trong tình huống đầy thử thách để họ bộc lộ rõ

phẩm chất.

• Các nhân vật đều góp phần thể hiện những khả năng tuyệt vời của tác giả (sự quan sát tinh tường, trí tưởng

tượng phong phú và tư duy liên tưởng so sánh bất ngờ) cũng như vốn kiến thức uyên bác về cả nghệ thuật lẫn

cuộc đời và tình cảm man mác mà sâu nặng, đằm thắm và giàu sức sống, đầy tươi trẻ dành cho Tổ quốc.

• Vẻ đẹp của nhân vật được tô đậm vẻ đẹp với hệ thống từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và

sức gợi cảm cao.

* Khác:

NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Ông lái đò được miêu tả như một người lao động dũng cảm lại vừa như một nghệ sĩ tài hoa của sông nước,

rất mực điệu nghệ trong công việc của mình.

• Hơn thế, ông còn là một chiến sĩ thầm lặng, vô danh trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên dữ dội.

Họ đã chiến thắng trong cuộc chiến không cân sức với thiên nhiên nhờ kinh nghiệm giàu , sự ngoan cường,

ý chí quyết tâm - những phẩm chất cao quý của con người mới. Ông cũng chính là chất vàng mười của Tây

Bắc mà tác giả dày công tìm kiếm.

Trang 3


• Cuộc chiến ngoan cường của ông với thiên nhiên được tái hiện bằng các câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu

nhịp điệu.

HUẤN CAO

• Nhân vật là một người anh hùng thất thế, nay bị kết án tử nhưng khí phách hiên ngang, không khuất

phục trước uy quyền; cũng là người nghệ sĩ rất tài hoa và thiện lương trong sáng, nhân cách cao đẹp.

• Được xây dựng từ nguyên mẫu, vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật được phát triển trong tình huống truyện độc

đáo, đặc sắc (cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu với viên quản ngục) và không khí cổ xưa đặc trưng:

được khắc họa rõ nét bằng thủ pháp đối lập, tương phản cùng ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh.

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Trang 4


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 14

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Như các bạn đều biết, học vấn không phải là việc chỉ đọc và cứ đọc thật nhiều sách là đủ. Bản chất của

học vấn phụ thuộc vào khả năng ứng dụng. Có học vấn mà không ứng dụng được vào cuộc sống thực tế thì

chẳng khác gì vô học. [...] Theo như suy nghĩ của tôi, bản chất thực sự của học vấn là phải động não suy

nghĩ, chứ không phải chỉ là đọc sách một cách đơn thuần.

Để ứng dụng sống động suy nghĩ đó vào cuộc sống thực tế cần biết trù tính, lo liệu. Tức là phải quan sát

sự vật. Phải suy đoán đạo lý của sự vật. Phải đưa ra chính kiến, cách nghĩ cách làm của bản thân mình.

Ngoài ra, đương nhiên là còn phải đọc sách, phải viết sách. Phải nói lên ý kiến của mình cho người ta nghe.

Phải tranh luận. Biết vận dụng tổng hợp các biện pháp như vậy thì mới được gọi là nghiên cứu học vấn.

Quan sát sự vật, suy luận, đọc sách là cách để tích lũy trị thức. Bàn bạc, tranh luận là cách để trao đổi tri

thức. Viết, diễn thuyết là cách để mở rộng tri thức. [...]

Đa số các học giả hiện nay thường chỉ hoạt động hạn hẹp trong phạm vi cá nhân. Họ e ngại, chây lười

không muốn mở rộng ra thế giới bên ngoài. Hãy mau tỉnh ngộ. Chỉ khi nào kiến thức sâu như vực thẳm,

tiếp xúc trao đổi với người khác như chim tung cánh rộng mở tự do tự tại trong không trung, mới đúng là

học giả thực thụ.

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên.

(Khuyến học, Fukuzama Yukichi, Phạm Hữu Lợi dịch, Nxb Thế giới,

tr 173–175, 2016)

Câu 2: Theo tác giả, để trở thành một học giả (nhà nghiên cứu, thực thụ, chúng ta cần phải làm những gì?

Câu 3: Xác định tình cảm, thái độ của tác giả thể hiện qua văn bản.

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với ý kiến: “Bản chất của học vấn phụ thuộc vào khả năng ứng dụng”

không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về những điều cần làm để

việc học đi vào chiều sâu.

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài) trong đêm đông

khi cắt dây trói cứu A Phủ. Từ đó liên hệ với diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Chí Phèo sau khi

bị Thị Nở cự tuyệt trong đoạn trích truyện ngắn cùng tên của Nam Cao để nhận xét về nghệ thuật khắc họa

Trang 1


nhân vật của hai tác giả.

-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Phong cách ngôn ngữ của văn bản: Chính luận.

Câu 2: (0,5 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Theo tác giả, để trở thành một học giả (nhà nghiên cứu) thực thụ, chúng ta cần phải hiểu rằng bản chất thực

sự của học vẫn là phải động não suy nghĩ, chứ không phải chỉ là đọc sách một cách đơn thuần; đồng thời phải

biết vận dụng tổng hợp các biện pháp (quan sát, suy đoán đưa ra chính kiến và tranh luận) cũng như ứng

dụng được học vấn vào cuộc sống.

Câu 3: (1,0 điểm)

Tình cảm, thái độ của tác giả thể hiện qua văn bản:

• Khẳng định nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống, khả năng ứng dụng.

• Phê phán lối học từ chương, học vẹt, chỉ nắm lý thuyết suông.

Câu 4: (1,0 điểm)

Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn, vì những nguyên nhân sau:

• Việc học bao gồm rất nhiều yếu tố, bên cạnh tri thức còn kĩ năng, và trong đa số trường hợp thì kĩ năng

mới là điều quan trọng nhất.

• Học cần đi đôi với hành, lý thuyết phải ứng dụng được vào thực tế mới tạo nên giá trị cho cuộc sống.

• Khả năng ứng dụng cho thấy nỗ lực của tư duy, là thang đo chính xác cho kết quả của những tri thức đã

tích lũy.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Nghiêm túc học hỏi, nghiên cứu khoa học, phát huy sáng tạo.

• Mạnh dạn trao đổi, phát biểu ý kiến, rèn luyện tư duy phản biện.

• Hình thành thói quen tự học, xây dựng kế hoạch, mục tiêu học tập rõ ràng, cụ thể.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật Mị. Từ đó liên hệ với nhân vật Chí Phèo sau

khi bị Thị Nở cự tuyệt trong đoạn trích truyện ngắn cùng tên để nhận xét về nghệ thuật khắc họa nhân

vật của hai tác giả.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Tô Hoài là một nhà văn lớn của dân tộc. Ông vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của

nhiều vùng khác nhau trên đất nước. Truyện ngắn này được sáng tác năm 1952, trích trong tập Truyện Tây

Bắc. Đó là kết quả chuyến đi dài tám tháng cùng bộ đội tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc của tác giả.

Từ đó, ông đã phản ánh chân thực và đầy xúc động cuộc sống bị áp bức và quá trình vùng lên đấu tranh của

Trang 2


nhân dân nơi đây thông qua số phận của những con người tiêu biểu như Mi, A Phủ.

b. Bàn luận về vấn đề

* Yếu tố tác động: Khi đang thức sưởi lửa để xua đi cái lạnh, vô tình Mị thấy “một dòng nước mắt lấp lánh

bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ.

* Diễn biến tâm trạng, hành động:

• Đầu tiên, Mị lạnh lùng, vô cảm khi “vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay”.

• Nhưng Mị dần thay đổi. Mị nhớ lại hoàn cảnh của mình trước đây khi bị A Sử hành hạ.

• Cô bắt đầu thấy cảm thông cho A Phủ và căm phẫn tội ác của cha con thống lí.

• Cô nghĩ đến thân mình và nhận thức được sự vô lí đối với A Phủ, đồng thời Mị tưởng tượng cảnh nếu A

Phủ trốn được, Mị sẽ phải chết thay.

* Kết quả: Dần dần Mị đã thắng sự sợ hãi để dẫn đến kết quả là hành động cắt dây trói nhanh chóng, dứt

khoát. Và sau phút giây ngắn ngủi “đứng lặng trong bóng tối”, Mị đã “vụt chạy ra” trốn thoát cùng A Phủ.

c. Đánh giá

• Tác giả đã trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên với ngôn ngữ sinh động,

chọn lọc, sáng tạo; câu văn giàu tính tạo hình và đậm chất thơ.

• Diễn biến tâm lí và hành động của Mị đã thể hiện một tâm hồn khao khát hạnh phúc, một sức sống tiềm

tàng mãnh liệt, ở thời cũng thể hiện lòng nhân đạo của nhà văn.

d. Liên hệ so sánh

* Giống:

• Chú ý khai thác cả về hành động lẫn thế giới nội tâm phong phú, phức tạp của nhân vật.

• Tính cách được thể hiện sâu sắc, ấn tượng khi đặt trong quan hệ với một nhân vật khác.

• Diễn biến hành động, tâm lí nhiều bước chuyển bất ngờ, gắn với bước ngoặt của tác phẩm, góp phần tạo

nên kịch tính cho truyện ngắn.

* Khác:

NHÂN VẬT MỊ

• Diễn biến tâm lí và hành động thể hiện một tâm hồn khao khát hạnh phúc, một sức sống tiềm tàng mãnh

liệt.

• Miêu tả tâm lí chủ yếu bằng độc thoại nội tâm, bằng những xúc cảm phức tạp.

• Nhân vật mang tính chất tiêu biểu cho số phận người nông dân nghèo miền núi trước năm 1945, mang đậm

màu sắc địa phương.

NHÂN VẬT CHÍ PHÈO

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

• Diễn biến tâm lí và hành động của Chí Phèo đã thể hiện nỗi đau của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bi

kịch vỡ mộng hoàn lương.

• Miêu tả tâm lí bằng đối thoại và độc thoại nội tâm với những xúc cảm phức tạp.

• Nhân vật mang tính chất điển hình cho số phận người nông dân nghèo trước cách mạng.

Trang 3


TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM

ĐỀ THI THỬ THPTQG NĂM 2019

HỒ CHÍ MINH

CHUẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC – ĐỀ 15

Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Họ, tên thí sinh:.......................................................................

Số báo danh: ............................................................................

I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có

người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục

tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về

với mơ ước ban đầu. Nhưng cũng người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ

còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ cách thức

mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng ước mơ nào là tầm thường. Và chúng ta học không

phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để thể làm điều mình yêu

thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất thể, một cách xứng đáng và tự

hào. Mỗi một người đều vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lý do để chúng ta

không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều

làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không

phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai

sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới nước những

luống rau? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính? Phần đông chúng ta

cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn

một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

(Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)

Câu 2: Vì sao tác giả bài viết cho rằng ta không nên rẻ rúng, coi thường những công việc bình thường?

Câu 3: Nêu nội dung của đoạn văn bản trên.

Câu 4: Anh (chị) đồng ý với quan điểm “luôn một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường” hay

không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về cách thức để mỗi người

thực hiện ước mơ

Câu 2 (5,0 điểm):

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Phân tích vẻ đẹp của nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của

Trang 1


Nguyễn Minh Châu. Từ đó liên hệ với bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương để thấy điểm đặc sắc của các

tác giả khi tái hiện hình tượng người phụ nữ.

-------------------- HẾT --------------------

I. ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1: (0,5 điểm)

Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận.

Câu 2: (0,5 điểm)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

Tác giả bài viết cho rằng ta không nên rẻ rúng, coi thường những công việc bình thường vì:

• Mỗi người đều những vai trò riêng, chỉ cần làm tốt phần việc của mình họ đều xứng đáng được ghi nhận.

• Mỗi công việc đều những đóng góp riêng cho xã hội, phần đông chúng ta là những con người bình

thường và đều làm những công việc bình thường.

Câu 3: (1,0 điểm)

Nội dung của văn bản:

• Bài viết đã nêu quan điểm: Mỗi người cần một ước mơ và cần nỗ lực học tập, rèn luyện để hiện thực hóa

mơ ước ấy theo cách của riêng mình.

• Qua đó, tác giả cũng đã bày tỏ sự trân trọng với những công việc mang đến giá trị thực sự cho xã hội và

phản đối cách nhìn thiên lệch, định kiến về những công việc bình thường.

Câu 4: (1,0 điểm)

Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn, vì những nguyên nhân sau:

• Không nghề nghiệp cao quí mà chỉ những con người làm cao quí cho nghề nghiệp.

• Nếu năng lực và đam mê để theo đuổi đến cùng một công việc, con người sẽ thể vượt qua mọi khó

khăn để đạt đến mục tiêu mình mong muốn.

• Công việc nào cũng đòi hỏi sự nỗ lực, nếu chịu khó rèn luyện và học hỏi để nâng cao kĩ năng, con người sẽ

nhận được những kết quả xứng đáng với những gì mình bỏ ra.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1: (2,0 điểm)

Có thể nêu một số nội dung sau:

• Xác định năng lực, đam mê và tin tưởng vào ước mơ của mình.

• Đề ra những mục tiêu, kế hoạch cụ thể để thực hiện ước mơ.

• Chuyên tâm, kiên trì và nỗ lực không ngừng để theo đuổi ước mơ.

(Lưu ý: Học sinh viết thành đoạn văn)

Câu 2: (5,0 điểm)

Phân tích vẻ đẹp của nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Từ đó

liên hệ với bài thơ Thương vợ để thấy điểm đặc sắc của các tác giả khi tái hiện hình tượng người phụ

nữ.

a. Vài nét về tác giả, tác phẩm

NGUYEN THANH TU PRODUCTION

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam

Trang 2


thời kì đổi mới với tất cả tâm huyết, tài năng cũng như khát vọng sáng tạo chân chính và bản lĩnh dũng cảm.

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được ông sáng tác năm 1983, in lần đầu trong tập Bến quê (1985), sau

được in riêng thành tập truyện ngắn cùng tên. Truyện ngắn này tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học

Việt Nam thời kỳ đổi mới: hướng nội, chú ý khai thác số phận cá nhân và thân phận con người trong cuộc

sống đời thường.

b. Vẻ đẹp của nhân vật người đàn bà hàng chài

• Giàu đức hi sinh: Chấp nhận người chồng vũ phu vì “cần phải người đàn ông để chèo chống khi phong

ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dư